Văn học dân tộc thiểu số không chỉ đóng góp một dòng chảy vào thành tựu sáng tạo chung, mà còn trực tiếp gìn giữ bản sắc riêng ở mỗi cộng đồng. Bao giờ nước ta có Giải thưởng Tuấn Mã như quốc gia láng giềng?


Văn học dân tộc thiểu số ở Việt Nam mấy thập niên qua đã định vị nhiều tác giả tên tuổi như Y Phương, Mã A Lềnh, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Y Điêng, Inrasara, Préki Malamak, Dư Thị Hoàn, Lò Cao Nhum, Dương Thuấn, Hoàng Quảng Uyên, Cao Duy Sơn… Nhờ những gương mặt văn học dân tộc thiểu số, công chúng thêm yêu mến và thêm gần gũi các dân tộc anh em như Tày, Chăm, Cháy, Ê Đê, Châu Ro, Khơ Me… Thế nhưng, chúng ta vẫn chưa có một giải thưởng riêng cho văn học dân tộc thiểu số. Như một sự gợi ý cần thiết, thử tham khảo Giải thưởng Tuấn Mã của Trung Quốc.

Giải thưởng Tuấn Mã do Hội Nhà văn Trung Quốc và Ủy ban Sự vụ dân tộc Trung Quốc đồng tổ chức, được hình thành từ năm 1983. Giải thưởng Tuấn Mã đã vinh danh những tác giả tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số Trung Quốc như Phan Linh dân tộc Bố Y, Hoàng Bội Hoa và Đào Lệ Quần dân tộc Choang, Thạch Thư Thanh và Mã Kim Liên dân tộc Hồi, Tiêu Cần dân tộc Cờ Lao, Mai Trác dân tộc Tạng, Vu Hiểu Uy dân tộc Mãn, Bào Nhĩ Cát Nguyên Dã dân tộc Mông Cổ…

Trong những năm gần đây, khi Trung Quốc triển khai chiến lược chấn hưng văn hóa nông thôn, thì Hội Nhà văn Trung Quốc cũng khởi xướng “Kế hoạch sáng tác về sự đổi thay kỳ vĩ của nông thôn miền núi trong thời đại mới” với sự chung tay của nhiều tác giả văn học dân tộc thiểu số. Nhờ chính sách vận động hợp lý, văn học dân tộc thiểu số Trung Quốc liên tục xuất hiện những tác giả 7X, 8X đem lại nhiều trang viết sinh động về cuộc sống miền biên viễn.

Nhìn vào những tác giả được trao tặng Giải thưởng Tuấn Mã, không khó để nhận ra sự độc đáo của văn học dân tộc thiểu số. Họ lấy bối cảnh tồn tại của họ làm cảm hứng văn chương. Nhà văn Tiêu Cầu viết “Chu sa”, “Mọi vì sao đều bí mật” hoặc “Trăng sương sớm” với “bầu trời như một thảo nguyên đỏ rực hùng vĩ đang chăn thả hàng ngàn con cừu”. Nhà văn Đào Lệ Quần viết “Hòn đảo của mẹ”, “Rừng đen” hoặc “Đêm xanh” từ góc độ “bình lặng như thể nằm ở nơi sâu thẳm nhất của thời gian, ngôi nhà đá đơn giản toát lên một bầu không khí trang nghiêm và trầm mặc”. Còn nhà văn Mã Kim Liên viết “Giữa ngày và đêm”, “Say khói xuân” hoặc “Người cha chốn thấp” thông qua sự quan sát “cỏ có tầng, có lớp, chỉ khi ngồi xổm xuống, cúi thấp người, đưa mặt lại gần, mới có thể phát hiện ra ý nghĩa ẩn chứa bên trong, đó là một thế giới vô cùng phong phú”.

Các nhà văn cư ngụ đô thị sáng tác về nông thôn và miền núi, không thể nào có được bản sắc như những tác giả dân tộc thiểu số. Bởi lẽ, văn học dân tộc thiểu số ẩn chứa khát vọng bất tận của những số phận biết cách chống chọi túng bấn và hắt hiu. Viết văn để phá bỏ vòng tròn quẩn quanh “Chăn cừu để làm gì? Bán lấy tiền. Bán lấy tiền để làm gì? Lấy vợ. Lấy vợ để làm gì? Sinh con. Sinh con để làm gì? Chăn cừu”, nhà văn Tiêu Cần quan niệm: “Văn học là một ngọn đèn. Đôi khi nó soi sáng con đường phía trước, đôi khi lại soi sáng con đường phía sau. Soi sáng phía trước là để chỉ dẫn phương hướng, còn soi sáng phía sau là để nhắc nhở chúng ta đừng bỏ lại hoặc đánh mất những điều quan trọng”.

Tương tự, nhà văn Mã Kim Liên cất lên tiếng nói dân tộc Hồi: “Tôi cho rằng, thế giới ta thấy và hiểu, được bao gồm đám đông bình thường ở tầng đáy. Họ mới chính là tế bào cơ bản cấu thành cuộc sống, và đó cũng là điểm hứng thú của văn học”.

Từ thực tế Giải thưởng Tuấn Mã ở Trung Quốc, càng thấy chúng ta nên đẩy mạnh đầu tư cho văn học dân tộc thiểu số Việt Nam. Đại hội Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031 vừa diễn ra thành công tại Hà Nội, cũng là tiền đề để nghĩ đến một giải thưởng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam.  

Ở kỷ nguyên mới, không thể không hy vọng nông thôn Việt Nam dịch chuyển từ “nông thôn mới về vật chất” sang “nông thôn mới về con người”. Để nhận diện thực tế và thúc đẩy phát triển “nông thôn mới về con người”, thì giá trị của văn học dân tộc thiểu số phải được đề cao hơn nữa. Một nhà văn Mông Cổ từng được Giải thưởng Tuấn Mã là Bào Nhĩ Cát Nguyên Dã đã dùng hình tượng “xếp con chữ sạch cạnh nhau” để nói về vai trò của các tác giả dân tộc thiểu số. Khi và chỉ khi văn học dân tộc thiểu số “xếp con chữ sạch cạnh nhau”, thì chúng ta mới hình dung đầy đủ sự quyến rũ và sức vươn lên của vùng sâu, vùng xa.

                                                     TUY HÒA