Tiểu thuyết thơ “Trăng Hoàng Cung” được coi là tập thơ cuối cùng của nhà thơ Phùng Quán. Hình tượng nhân vật chính là chân dung của nhà thơ nổi lên như nhập đồng với cuộc tình đơn phương ngày ấy. Cho dù bị nàng thơ từ chối đuổi đi, chàng thi sĩ vẫn kiên gan sống mãnh liệt…
Thời gian đã trôi đi gần 40 năm, cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi cố thi sĩ Phùng Quán (1932-1995) thật khó quên. Đó là dịp Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ Tư tại Hội trường Ba Đình (1989). Cánh viết trẻ chúng tôi háo hức tìm gặp nhà thơ. Nghe nói ông đã được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn VN (năm 1988) sau 30 năm ẩn danh. Bức ảnh được chụp chung với nhà thơ Phùng Quán như một vật quý, tôi luôn giữ và ghi dấu lời ông viết: “Thơ là lý lịch, là mạng sống đời tôi”.
NHỮNG CÂU CHUYỆN BÊN CHÒI COI SÓNG
Sau đó, chúng tôi tò mò tìm tới ngôi
nhà nhỏ bên hông trường Chu Văn An nơi nhà thơ Phùng Quán tá túc cùng gia đình
(từ năm 1981). Trên nóc vách nhà ông dựng một cái chòi rượu để ngắm sóng hồ
Tây. Đây được coi là quán ngênh phong nổi tiếng tạo nhiều giai thoại về Phùng
Quán. Nhưng cũng từ đây chấm dứt cảnh “Câu trộm, rượu nợ, văn chui” của nhà
thơ. Ông cũng không thích nói lại chuyện cũ mà luôn ngỏ lời cảm ơn người vợ
hiền mỗi lần bà mang đồ nhắm ra cho mọi người. Lúc này, ông đã có lương hưu và
món tiền nhuận bút bộ tiểu thuyết ba tập “Tuổi thơ dữ dội” (in lần thứ hai năm
1988 với 20 ngàn bản).
Nhà thơ có biệt tài độc tấu và đọc thơ
rất duyên dáng. Chúng tôi như bị hút vào giai điệu những câu thơ bay lên từ âm
sắc nhừa nhựa đẫm rượu trong niềm say. Lời chếnh choáng ngậm ngùi ngân lên với
những vần thơ mời rượu Tàn Đà: “Thôi, bác cứ ngồi yên ở đó/ Còn tôi cứ tĩnh tọa
ở đây/ Tôi thì làm thơ, bác làm núi/ Nhớ nhau tưới rượu xuống Hồ Tây” (Mời
rượu). Tay ông ve vảy chiếc quạt như đang tiêu dao bồng lai rồi nói rằng, rượu
là thiên tài tạo nên ảo tưởng. Sau đó, ông rơm rớm nước mắt đọc: “Trái tim tôi
như trái cây bị dập nát/ Rụng xuống từ cành cao/ Tình tuyệt vọng là ngọn sào/
Chọc cho trái cây rụng xuống…” (Trăng Hoàng Cung).
Đúng lúc này, bà Bội Trâm vợ nhà thơ
bước vào đưa thêm một đĩa lạc rang. Không gian hồ thu lộng gió. Đôi mắt nhà thơ
bừng sáng như tỉnh mộng. Bà Trâm ngồi đó rót những lưng chén rượu mời chúng
tôi. Bà là giáo viên trường Chu Văn An. Chúng tôi đều ngưỡng mộ bà đã dành toàn
bộ cuộc đời chăm sóc lo lắng cho chồng. Tình yêu của bà đối với nhà thơ Phùng
Quán thật hiếm thấy. Mặc dù cuộc sống đầy sóng gió nhưng bà lại luôn tự an ủi
khi nói với mọi người: “Tôi được hưởng nhiều lộc của anh ấy lắm!”.
Hai người yêu nhau tới bảy năm trời.
Cho dù gia đình và bạn bè ngăn cản, khi nhà thơ Phùng Quán bị vướng vụ NVGP
nhưng bà vẫn không thay lòng đổi dạ. Kỳ lạ thay, hai người cưới nhau tới hai
mươi năm, kể cả khi có hai con, vẫn phải ở xa cách nhau. Nhưng thú vị nhất là
chuyện bà Bội Trâm thường chép bản thảo cho chồng để gửi đi các báo hay nhà
xuất bản. Bà còn lấy bút danh khác cốt để những nơi đó không biết là tác phẩm
của Phùng Quán. Khi đó họ mới in. Thì ra văn chui là vậy.
Mãi tới gần 20 năm sau, trường Chu Văn An mới có dịp phân cho bà một căn nhà tập thể. Từ đó gia đình nhà thơ mới được đoàn tụ một nhà. Khi đó mới có thi phẩm “Đêm Nghi Tàm đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe” và “Kinh cầu nguyện buổi sáng”… ra đời. Nhà thơ đã thề nguyện với vợ: “Em là cây Thập tự của đời tôi/ Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc!” (Kinh cầu nguyện buổi sáng). Có giai thoại kể rằng, trong những năm tháng đi lao động đó đây nhà thơ Phùng Quán cũng ẩn giấu những bóng hồng này khác. Ngỡ như nghe tin đồn, bà Bội Trâm sẽ nổi cơn ghen nhưng không ngờ nhà thơ được tha bổng. Bà còn hài hước nói ý rằng, đi với cô nào ra thơ thì cảm ơn. Bởi có lẽ, là một giáo viên dậy văn bà Bội Trâm hiểu, với Phùng Quán thơ mới là tất cả. Quả vậy, có một tơ vương xảy ra sau một chuyến Phùng Quán đi xa. Mộng tình đã thành thơ như món quà trời ban cho nhà thơ.
TRĂNG HOÀNG CUNG HIỆN TRÁI BÍ XANH
Cho dù Phùng Quán sớm nổi tiếng với
tiểu thuyết “Vượt côn đảo” (in năm 1954) ở tuổi 22 nhưng lại bị tai nạn văn
chương ở những bài thơ (năm 1956). Trong suốt hành trình ẩn tu, ông vẫn nung
nấu với thi ca. Nhà thơ thầm lặng viết nhiều sách, truyện thiếu nhi để mưu
sinh. Trong khi đó, tâm hồn ông lại treo ngược trên những đầu cần câu và lưỡi
cuốc đất. Phùng Quán muốn thay đổi số phận thi ca của mình bằng nghệ thuật mới.
Nhất là có thời gian ông ngỡ như phát cuồng vì trái tim thơ bế tắc.
Nhà thơ đã xung phong lên rừng lao
động suốt ba năm trời (1981-1984). Ông mong đào xới được nguồn suối thi ca
trong tâm hồn mình. Thành phố đã lùi xa, sóng Hồ Tây nhạt nhòa sương bay, ông
xin phép vợ lên một bãi đất phù sa cổ hoang vu của đồi núi Thái Nguyên sinh
sống. Nhà thơ sống với rắn rết và mưa lũ sông Hồng. Ông còn đào một cái huyệt
để tự chôn mình nếu không tìm được nguồn năng sáng tạo thi ca. Ấy vậy ba suốt
ba năm đóng khố, áo tơi sốt rét và đói khát nhà thơ vẫn chỉ làm được nhõn một
bài uống rượu lá thuốc. Những lời thơ vẫn còn bí ẩn nằm đâu đó khi nỗi lòng
vang động: “Nhưng tôi chưa sống cho tròn nợ sống/ Tôi chưa yêu cho hết nợ tình
yêu/ Tôi phải lên rừng/ Hái lá khổ sâm/ Tự mình cất lấy ly rượu sống” (Lá khổ
sâm).
Sau ba năm tu luyện với sự cùng kiệt
tuyệt vọng, nhà thơ Phùng Quán rời bỏ cuộc đời “Robinson” bên suối Linh Nham
trở về chiến trường Huế xưa. Ông về quê sau 40 năm tha hương. Nhà thơ đã gặp
một Huế khác lạ so với thời tuổi 13 tham gia quân ngũ. Một nỗi rung động ngọt
ngào và cùng một nhan sắc đẫm ướt trăng vàng nơi hoàng cung. Nhan sắc ấy đã làm
ngọn lửa thơ trong tâm hồn Phùng Quán bừng cháy. Một tình yêu đằm sâu và gai
góc khôn lường. Trái tim thơ Phùng Quán gân bướng và lên cơn điên tình nhân cho
dù mình bị từ chối và lừa dối.
Tiểu thuyết thơ “Trăng Hoàng Cung” ra
đời từ đó (1984-1985). Thực ra chừng 13 bài thơ được viết theo lời dẫn chuyện
của nhân vật đều là những tác phẩm độc lập. Đó là sự bừng sáng của hồn thơ thi
nhân với những tâm trạng yêu thương và buồn sầu khác nhau. Chúng thể hiện một
tài năng thơ tài hoa Phùng Quán. Tình yêu và nỗi đau. Ánh trăng và sự lừa dối.
Nhưng “trái thơ” Phùng Quán luôn cựa quậy: “Có chim gì mỏ rất sắc/ Nó đậu trong
tóc tôi/ Nó mổ vừng-trán-trái-thơ chín mõm/ Tôi bàng hoàng thấp thỏm/ Sợ trái-thơ
rụng trước bình minh/ Tôi vùng dậy/ Đốt đèn/ Tôi hái…” (Trái thơ).
Tình yêu mãnh liệt trào dâng như lần đầu say đắm. Cho dù bị lừa dối và bị xua đuổi nhưng tầm hồn thi nhân vẫn trọn vẹn hiến dâng. Chàng thi sĩ đã mang trái bí xanh màu men ngọc Lý đề thơ tới tặng người tình nhân sinh nhật nàng. Mặc cho chê cười chàng vẫn trao gửi tấm lòng: “Trên da bí/ Màu men ngọc Lý/ Tôi tạc câu thơ/ Buồn như lửa/ Hỏa táng trái tim” (Trái bí xanh). Rồi cuối cùng chàng khóc: “Tôi khóc niềm tin yêu nát tan/ Tôi khóc ngai vàng mộng tưởng/ Tôi khóc Trăng-Hoàng-Cung bị lấm bẩn/ Tôi khóc không biết lấy gì để gột sạch Trăng…” (Tôi khóc).
VẪN THẮM MỘT KHỐI TÌNH
Mới đây, chúng tôi có dịp tới Bảo tàng
Văn Học VN với mơ ước được ngắm trái bí xanh cổ tích. Vẫn cái túi vải cũ cùng
con dao tự chế và chiếc mũ lá tơi tả ngày nào nhà thơ vẫn dùng. Câu thơ cuối
cùng trong tác phẩm vang lên trong nỗi niềm u uẩn: “Thương đế ơi!/ Tôi đã làm
gì?/ Mà ly rượu đời Người ban cho tôi/ Đắng thế!...”. Chòm râu thơ đẫm hương
nếp ấy vẫn bay phơ phất qua đôi mắt ướt buồn mà tôi luôn nhớ tới. Lời than cho
một cuộc tình chính là sự tuyệt vọng của thi nhân luôn khao khát sáng tạo nghệ
thuật.
Tiểu thuyết thơ “Trăng Hoàng Cung” được coi là tập thơ cuối cùng của nhà thơ Phùng Quán. Hình tượng nhân vật chính là chân dung của nhà thơ nổi lên như nhập đồng với cuộc tình đơn phương ngày ấy. Cho dù bị nàng thơ từ chối đuổi đi, chàng thi sĩ vẫn kiên gan sống mãnh liệt: “Đứng đầu đường cũng không được đứng/ Thì tôi xin chết/ Nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt/ Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh/ Dù hỏa táng/ Dù chôn xuống chín tầng đất/ Trái tim dập nát của tôi vẫn thắm một khối tình” (Tình tuyệt vọng). Chúng tôi cúi đầu vái lạy ông sau những câu thơ “Buồn như lửa” ấy. Và đó mới chính là thơ đích thực Phùng Quán.
VƯƠNG TÂM
Nguồn: Tinh Hoa Việt

