Chọn một cự li xa có lẽ là tiền đề dẫn tới một lựa chọn nghệ thuật khác cho việc kiến tạo tiếng thơ: tổ chức phát ngôn thơ thành một cuộc đối thoại. Ấy là cuộc trò chuyện rợn mình với cái bóng máu me trong đêm Bắc bán cầu.
Một hải ngoại huyết thư của NGUYỄN DUY
CHU VĂN
SƠN
Trong sáng
tạo, có những khoảnh khắc lóe sáng. Không hẳn sự xuất thần của tài lạ. Không hẳn
sự vỡ òa của tâm đau. Mà là phát ngôn của sứ mạng. Khi ấy, tiếng nói một cá
nhân chính là tiếng nói của nhân tâm. Là hồi trống, hồi chuông khua động lòng
đêm, lay thức lương tri cả cộng đồng. Trường hợp “Nhìn từ xa… Tổ quốc” của Nguyễn
Duy là thế chăng?
Nói cho
đúng, “Nhìn từ xa … Tổ quốc” thuộc một mạch thơ vẫn vần vụ khôn nguôi trong hồn
thơ này : mạch yêu và đau / quằn quại bi hùng. Nếu chỉ kể những bài hạng nặng,
thì trước đó 6 năm (1981-1982) là “Đánh thức tiềm lực”, sau đó 3 năm (1990
-1991) là “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ”. Ba thi phẩm tiếp ứng nhau như ba tia sét
phóng xuống từ những vần vụ trắng trong một hồn thơ quằn quại nỗi dân nước. Vì
thế, chớp lóe mà cũng tất yếu. Nếu cái trước tiền hô, cái sau hậu ủng, thì “Nhìn
từ xa… Tổ quốc” là ánh chớp chói gắt nhất xuyên thủng màn đêm. Nó gây nên nhiều
dư chấn hơn cả so với những rung chấn khác.
Lạ. Chả rõ
từ đâu, có ai bảo ai không mà đời lại cứ mặc nhiên coi tiếng nói yêu nước của
những bậc anh hùng cái thế, những chức trách cao trọng mới thuộc cỡ vằng vặc
trăng rằm. Còn thảo dân, thì nên yên ở tầm… thảo dân thôi. Nghĩa là, chớ có vượt
tầm yêu cỏ nội hoa hèn. Rồi yêu nước cũng phải có chỉ đạo nữa. Có phải thế
không mà lòng yêu nước, nỗi đau đời lắm khi cứ phải nói chui như một thứ hàng lậu.
Thiện chí bị nghi ngờ, thiện tâm bị cảnh giác. Lời tâm huyết bị kiểm duyệt, cắt
xén sao cho hợp những cái khuôn cấm kị.
Ở chốn nào
lòng yêu nói ra được thành thơ cũng đã khó. Ở đây, sự khó muôn phần: phải lọt
được những lỗ tai đông đặc nghi kị, ngờ vực. Dõng dạc cất lên trong thời buổi
như thế, “Nhìn từ xa… Tổ quốc” là lòng yêu nước của ai đây? - Của thảo dân. Tầm
nào đây? - Thì tầm thảo dân thôi. Hợp khuôn không? - Chà. Lại có cái khuôn cho
những dòng nham thạch phụt trào trước cơ sự quốc gia hưng vong ư? Có chỉ đạo chứ?
- Tất nhiên. Chỉ đạo bởi lương tri của một lương dân: “Dù có sao vẫn Tổ Quốc
trong lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần/ còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy
thì ta tồn tại”.
Nếu chỉ biết
yêu nước không thôi, hẳn Nguyễn Duy đã không có được tiếng thơ này. Đành rằng,
yêu và thương không dễ tách bạch. Chúng thường song sinh và chuyển hóa lẫn
nhau. Đành rằng, cụm từ cửa miệng “yêu nước thương nòi”, “yêu nước thương nhà”,
“yêu nước thương dân”… nghe chừng đã đủ. Nhưng, cứ được nói hoài đầu môi chót
lưỡi, dần lâu thành quen, mòn, sáo, rỗng. Coi chừng chúng đã thành một thứ chốt
an toàn, làm cho ai luôn nói thế được yên chí với mình, yên sự với đời. Song,
yêu và thương đâu chịu đánh đồng thế.
Tình yêu,
về bản chất, là niềm say mê hướng về cái đẹp, mà rộng hơn, là giá trị. Tình
thương lại là nỗi xót xa hướng về những bất hạnh. Yêu thích ca tụng, tán dương.
Thương ưa cảm thông, chia sẻ. Yêu say đắm ngất ngây. Thương trăn trở đau đớn.
Yêu dễ thoát li. Thương khó né tránh. Yêu chiếm hữu. Thương xả thân. Yêu nồng.
Thương nặng. Bởi vậy, người yêu nước thì nhiều. Người biết thương nước đâu có
nhiều. Thơ yêu nước vô vàn. Thơ thương nước thưa thớt.
Cao hơn
lòng yêu nước đơn thuần, Nguyễn Duy đã “Nhìn từ xa… Tổ quốc” bằng lòng thương
nước. Đã nói bằng nỗi đau của một con dân đất nước. Đã viết bằng ngòi bút quằn
quại bi hùng. Càng yêu lại càng thương. Càng thiết tha với những giá trị phì
nhiêu - nhân tình - từ bi - thông minh - thật thà - kỉ cương - cần cù… của đất
nước nghìn đời nay bao nhiêu, lại càng đau đớn khi thấy những giá trị ấy bị xói
mòn, biến dạng, tha hóa bấy nhiêu. Thơ cứ vỡ ra từ nỗi quặn lòng thống thiết. Ấy
là nỗi thống thiết trước cơ cảnh dân nước: “Đừng lớn lối khi dân lành ốm đói/ vẫn
còng làm cho thẳng lưng ăn”.
Ấy là nỗi
thống thiết trước di họa của thứ yêu mê dễ dãi từng ca hót chim chóc suốt một
thời : Ta là ta mà ta cứ mê ta. Nỗi thống thiết tràn ra thành điệp khúc dai dẳng:
“Ai? Ai? Ai? Không ai! Không ai! Không ai!”. Mỗi câu hỏi cất lên đều khắc khoải
như lời chất vấn của máu. Những chất vấn không lời đáp (hay đáp lời không?) cứ
vang vọng toàn bài tạo nên một âm hưởng bao trùm: âm hưởng quằn quại. Còn lời
thơ thì thật nghẹn uất: “Vâng – có một thời hùng vĩ lắm/ hùng vĩ đau thương
hùng vĩ máu xương/ mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm”. Thật đắng lòng:
“Khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối/ Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn”. Thật
khí tiết: “đổi mới thật không hay giả vờ đổi mới/ máu nhiễm trùng ta có thể
thay chăng?”. Hàng, từng hàng như thế, “Nhìn từ xa … Tổ quốc” khác nào một hải
ngoại huyết thư.
*
Tôi chắc,
lần này, khi đối diện ngọn đèn / trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng, Nguyễn
Duy đã phải trải nhiều băn khoăn tìm tòi một hình thức thật ưng để định dạng
cho những vần vụ trắng này thành thi phẩm. Đây luôn là phần việc khó khăn bậc
nhất của sáng tạo thơ. Không thể lặp lại “Đánh thức tiềm lực”, theo cái cách Ta
nói với Em (viết hoa). Chưa thể hay không thể như “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ” xuất
hàng loạt hư chiêu, lấy thực làm hư lấy hư làm thực. Càng không thể rút tỉa
tinh, qui giản gọn như một bài thơ ngắn. Đây là lúc cần nói rát, nói đau về sự
thật. Cần nói đầy, nói thấu về sự thực.
Song, cũng
không thể là nghị luận bắt thành vần, không thể là liên khúc kiểm kê, càng
không thể la liệt bày ra như bộ sưu tập những điều nhức nhối. Hình thức nào, cấu
trúc nào cho tiếng thơ hạng nặng này? Chẳng biết do sự mách bảo nào mà, cuối
cùng, Nguyễn Duy đã chọn cho “Nhìn từ xa… Tổ quốc” cái hình hài đặc biệt thế.
Không nên
coi “Nhìn từ xa… Tổ quốc” là một bài thơ dài. Mà nên đọc nó như một trường ca
ngắn. Một dạng trường ca nén. Nó gợi nhớ đến nhiều thi phẩm kiểu trường ca ép
mình vào khuôn khổ một bài thơ lẻ của những Paul Eluar, Maia, Lorca, Nêruđa,
Ritxôt, Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Thanh Thảo… Đúng là nó không được dàn bày
ra thành nhiều chương khúc. Nó không triển khai những nội dung đa tuyến, đa tầng.
Nó không dựng lên một thế giới nhân vật đông đảo. Nó cũng không dày công khắc họa
chi li những chân dung. Nghĩa là “Nhìn từ xa… Tổ quốc” không có những chỉ dấu
thông thường của một bản trường ca quen gặp. Song, nó vẫn là một dạng trường
ca.
Không chỉ
vì cái nó đề cập là những vấn đề tầm vóc lịch sử. Không chỉ vì cặp hình tượng
trung tâm xuyên suốt bài thơ là cái - tôi - thảo - dân và cái bóng máu me của người
anh hùng bất lực dài ngoẵng. Mà trước hết bởi tâm trạng chủ thể là rung chấn của
thời đại, của lịch sử: “Nhắm mắt lại mà nhìn/ thăm thẳm/ yêu và đau/ quằn quại
bi hùng”. Đó chẳng phải là tâm trạng trường ca sao? Và, nội dung thơ chẳng phải
là bức tranh toàn cảnh về thực trạng đất nước trong một chặng dài? “Nhủ mình
bình tâm nhìn về quê nhà/ xa vắng/ núi và sông/ và vết rạn địa tầng…Ta đã xuyên
suốt cuộc chiến tranh/ nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chân/ nhói dài mỗi
bước”. Đó là tầm bao quát của trường ca. Một trường ca quặn mình trong 11 trang
in.
Nếu “Đánh
thức tiềm lực” và “Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ” lấy điểm nhìn gần từ bên trong đất nước,
thì thi phẩm này chọn cái cự li “Nhìn từ xa…Tổ quốc”. Thi sĩ là một con dân ở
xa đau đáu nhìn về đất nước. Nhờ đó mà tạo ra được một cách tiếp cận nghệ thuật
độc đáo. Ấy là một cái nhìn kép cho con mắt thơ: vừa ngoại quan từ bên ngoài, vừa
nội soi từ bên trong. Cách xa hóa ra lại là điều kiện cần về không gian để có
thể thấy thật rõ, thật khắp, thật gần. Bởi càng xa thì càng thấu: “Dù ở đâu vẫn
Tổ quốc trong lòng/ cột biên giới đóng từ thương đến nhớ”. Không có cự li này,
làm sao có được thi phẩm.
Chọn một cự
li xa có lẽ là tiền đề dẫn tới một lựa chọn nghệ thuật khác cho việc kiến tạo
tiếng thơ: tổ chức phát ngôn thơ thành một cuộc đối thoại. Ấy là cuộc trò chuyện
rợn mình với cái bóng máu me trong đêm Bắc bán cầu.
Hồi viết “Đánh
thức tiềm lực”, Nguyễn Duy đã có những câu: “Tuổi thanh xuân trọn vẹn cuộc chiến
tranh/ sau lưng ta là kỉ niệm bi tráng/ trước mặt ta vẫn con đường gập ghềnh”…
Lần nhìn từ xa Tổ quốc này, cái kỉ niệm bi tráng luôn ẩn khuất sau lưng kia đã
hiện lên trong một diện mạo nghệ thuật mới: ấy là cái bóng máu me ta. Là người
anh hùng bất lực dài ngoẵng trong hình hài vết máu bầm đen. Nó trở thành một biểu
tượng nghệ thuật. Không có hình tượng vừa thực vừa siêu thực này, hẳn không thể
có bài thơ như một cuộc đối thoại huyền hoặc thế. Nó đem đến cho thơ một cấu tứ
song hành: trò chuyện siêu thực mà nói về hiện thực; đối thoại mà độc thoại; chất
vấn mà tự vấn. Hai kẻ hai ngôn ngữ khác nhau. Cái tôi thì bằng lời. Cái bóng
thì cử chỉ. “Nhìn từ xa … Tổ quốc” vì thế, có dáng dấp của một vở kịch đặc biệt
: không hẳn kịch câm, mà bán câm.
Trên sân
khấu một đêm Bắc bán cầu, là cuộc thoại một người, một bóng. Người nói, bóng
câm. Cái tôi có tới mười lần phát vấn, lần nào cũng nhói lên một câu, câu chỉ một
từ: Ai? Ai? Ai?... Cái bóng thì tỏ đến mười cử chỉ khác nhau. Cử chỉ nào cũng
ra cùng một dấu hiệu: bất lực. Vết bầm đen đấm ngực. Vết bầm đen quều quào giơ
tay. Vết bầm đen ngửa mặt lên trời. Vết bầm đen tọa thiền. Vết bầm đen cúi đầu
lặng thinh. Vết bầm đen vò tai. Vết bầm đen nhún vai. Vết bầm đen rứt tóc. Vết
bầm đen gập vuông thước thợ. Vết bầm đen còng còng dấu hỏi. Cứ thế. Cái tôi
quày quả đủ phương. Cái bóng u uất một niềm. Cái tôi thì cất lời. Cái bóng thì
câm tiếng. Thành thử, nó là cuộc trò chuyện vô vọng với người câm suốt cả đêm
dài. Cuộc đối thoại biến thành màn độc thoại hoang vắng. Trò chuyện mà kì thực
là cô độc. Vò võ trắng đêm thế, cái tôi thảo dân như một kẻ cô trung.
Một khía cạnh
đặc biệt khác tứ thơ còn được tổ chức
thành cuộc bắt bệnh. Thi sĩ như một bác sĩ đặc biệt. Bắt bệnh đời cũng là thăm
bệnh mình. Đủ cả vọng văn vấn thiết. “Vọng” đã tỏ. “Văn” đã tường. “Nhìn từ xa
… Tổ quốc” điểm ra cả chục căn bệnh trầm kha trong thực thể xứ sở. Xứ sở phì
nhiêu sao thật lắm ăn mày? Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn
đủ kiểu ? Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma? Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình
chùa làm kho hợp tác ? Xứ sở thông minh sao thật lắm trẻ con thất học ? Xứ sở
thật thà sao thật lắm thứ điếm? Xứ sở cần cù sao thật lắm Lãn Ông? Xứ sở bao
dung sao thật lắm thần dân lìa xứ? Xứ sở kỉ cương sao thật lắm thứ vua ???. Mỗi
câu hỏi một xác chứng. Mỗi câu hỏi một đối chứng. Vừa phản biện gay gắt sự ca
hót dễ dãi về xứ sở. Vừa than tiếc cay đắng về từng tài sản thiêng liêng bị
khánh kiệt tan hoang.
Cái tôi
bác sĩ đau đáu truy tìm cho ra thủ phạm của trọng bệnh. Ai làm? Ai đã gây ra những
căn bệnh này? Càng “vấn” càng không lời đáp. Không ai. Không ai. Không ai. Để
tìm nguyên nhân thật, có lẽ phải “thiết” mới ra. “Thiết” đây không thể là bắt mạch.
Mà phải là xét nghiệm. Cái tôi đã quyết định: Chích một giọt máu thường xét
nghiệm thì dưới kính hiển vi, một cấu trúc máu thê thảm hiện nguyên hình: “tí
trí thức – tí thợ cày – tí điếm / tí con buôn – tí cán bộ - tí thằng hề/ phật
và ma mỗi thứ tí ti”. Đó là thứ máu nhiễm trùng: “Máu nhiễm trùng ta có thể
thay chăng?”.
Máu nhiễm trùng phát thành bao nhiêu bệnh ngấm
ngầm làm cho cơ thể băng hoại. Rồi thì cũng lần ra nguyên nhân mầm bệnh là do
tham, háu, do ăn sống nuốt tươi, do mất vệ sinh thành bội thực, thành hôn mê, lại
chủ quan suốt bao nhiêu năm không chịu chẩn trị chữa chạy: “Bụng dạ cồn cào bất
ổn làm sao/ miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít/ mất vệ sinh bội thực tự hào/ Sự
thật hôn mê - ngộ độc ca ngợi/ bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại”.
Thấy ra
nguồn cơn rồi thì băn khoăn chọn giải pháp kê đơn bốc thuốc: “chả lẽ bây giờ bốc
thang chửi bới/ thầy chửi bới nhe dàn nanh cơ hội/ chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai
lại/ Lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy”… Tất cả các thang ấy đều không thể. Bản tính
thảo dân vốn không chấp nhận bi quan tuyệt vọng, nên thi sĩ thầy thuốc này cần
phải tìm cho mình một cơ sở để đặt niềm tin, niềm hi vọng. Và may thay, thực thể
tuy nhiễm trùng, nhưng chân khí vẫn nguyên lành, tâm linh vẫn nguyên vẹn: “mạch
tâm linh trong sạch vô ngần”. Chân khí còn là còn có cơ. Cái tôi ấy tin vào
chân khí, nguyên khí và nhen nhóm niềm hi vọng lớn “dù có sao vẫn tổ quốc trong
lòng/ mạch tâm linh trong sạch vô ngần/ còn thơ còn dân / ta là dân – vậy thì
ta tồn tại”. Nguyên khí còn thì cơ thể xứ sở tất sẽ mạnh.
Mang căn cốt
thảo dân, hiển nhiên thơ Nguyễn Duy đậm chất dân gian. Lục bát thì rõ mười mươi
rồi. Còn thơ tự do xem ra lại hoàn toàn hiện đại. Trong thơ tự do, thấy ngòi
bút Nguyễn Duy tung hoành phá cách, tưởng chừng anh đã siêu vượt ra ngoài cái
căn tính dân gian đó rồi. Nhưng, không hẳn. Chính đọc thơ tự do mới thấy cái phần
dân tộc, dân gian nặng căn thế nào. Dân gian đây không chỉ ở việc dùng thi liệu,
ngôn liệu. Dân gian đây cũng không chỉ ở vay mượn đôi ba sắc thái giọng điệu.
Những thứ ấy chẳng qua chỉ là lớp lộ thiên, là đôi ba lá chồi nhú lên bề mặt
thôi. Dân gian nằm sâu ngay trong bộ rễ của mỗi cây thơ, ẩn sâu trong cấu tứ mỗi
thi phẩm. “Nhìn từ xa … Tổ quốc” chẳng phải vậy sao ?
Đọc bài
thơ, thấy phần quan trọng của nội dung điểm ra cả chục loạn bệnh, tôi đã tưởng,
có lẽ anh ảnh hưởng bài vè mười loạn từng xôn xao trong dân gian hồi bấy giờ. Thứ
nhất là loạn quốc ca / thứ nhì loạn giá thứ ba loạn tiền / thứ tư là loạn
chuyên viên / thứ năm là loạn tình duyên vỉa hè / thứ sáu là loạn ông nghè / thứ
bảy là loạn con phe ngoài đường / thứ tám là loạn huân chương / thứ chín là loạn
tuyên dương anh hùng / thứ mười là loạn… lung tung. Nhưng không phải. Nguyễn
Duy đâu phải tạng kể lể bi quan, hay hăng hái chỉ chích suông cho khoái khẩu.
Tạng anh mỗi sự đau đời là một vốc muối xát
vào chính lòng mình, là đau thương mà trách nhiệm, là khổ tâm mà mạnh mẽ. Vì thế,
đọc đến câu kết thấy lẩy nguyên lời ca dao “còn da lông mọc còn chồi nảy cây”,
tôi mới vỡ lẻ về bí mật của cấu tứ. Thì ra, là một cấu tứ rất dân gian. Thì ra,
tứ thơ được tổ chức theo tinh thần của bài ca dao nổi tiếng nói về niềm lạc
quan vô bờ bến của miền Trung. Bài Mười quả trứng: “Tháng giêng tháng hai/
tháng ba tháng bốn/ tháng khốn tháng nạn/ đi vay đi tạm/ được một quan tiền/ ra
chợ kẻ Diên/ mua được con gà mái/ về nhà đẻ được mười quả trứng/ Một quả trứng
ung/ hai quả trứng ung/ ba quả trứng ung / bốn quả trứng ung/ năm quả trứng ung/
sáu quả trứng ung/ bảy quả trứng ung/ Còn ba quả nở được ba con/ con diều tha/
con quạ bắt/ con mắt cắt xơi/ Khánh kiệt rồi, cùng đường rồi, nhưng vẫn chẳng
tuyệt vọng, gục ngã, vẫn nuôi hi vọng, vẫn lạc quan. Chớ than phận khó ai ơi/
Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”.
Thì ra vậy,
“Nhìn từ xa… Tổ quốc” đã điểm ra mười quả trứng ung của lứa trứng xứ sở. Trứng
thuộc nòi tốt, ủ ấp thế nào mà để thành ung, nuôi giữ thế nào mà bị tha bắt cắt
xơi hết cả. Song, chừng nào còn dân thì vẫn còn gốc của hi vọng, đó là chân
khí, nguyên khí giống nòi. Đó là cơ sở bất diệt cho niềm lạc quan. Tin vào dân
thôi “còn thơ còn dân/ ta là dân – vậy thì ta tồn tại”. Dù có sao/ đừng thở dài/
còn da lông mọc còn chồi nảy cây. Viết thế, chẳng phải Nguyễn Duy vẫn rất dân
gian, dân tộc sao! Có lẽ, dân gian đã nhập vào sâu trong tiềm thức chủ thể, khi
viết ra, dù không ý thức học ca dao dân gian, nó vẫn cứ ra ca dao, cứ là dân
gian vậy. Huống chi, một thi phẩm như thế này không thể không bắt rễ, không thể
không nảy sinh từ cái gốc trường tồn ấy.
*
Đọc cả bài
thơ bi hùng này, đọc từng lời thơ chắt ra từ máu huyết, mồ hôi, từ những vết
thương, những rạn nứt, cào xước trong thân, trong tâm mỗi con dân đất Việt như
thế này:
- Nạng gỗ
khua rỗ mặt đường làng
-mẹ liệt
sĩ đội mồ lên đi kiện
-ma cụt đầu
phục kích nhà quan
- Tuổi thơ
oằn vai mồ hôi nước mắt
-tuổi thơ
còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp
-tuổi thơ
bay như lá ngã ba đường
- Bịt mắt
bắt dê đâu cũng đụng thần đồng
-mở mắt…
bóng nhân tài thất thểu
- Điếm cấp
thấp bán trôn nuôi miệng
-điếm cấp
cao bán miệng nuôi trôn
- Đạo
Chích thành tôn giáo phổ thông
- Mặc kệ cỏ
hoang cánh đồng gái góa
- Lãnh
chúa xứ quân san sát vùng cát cứ
-lúc nhúc
cường hào đầu trâu mặt ngựa
- Luật
pháp như đùa như có như không có
-một người
đi chật cả con đường
Hẳn các
nhà phê bình kinh viện, giáo điều sẽ loay hoay để mong xếp “Nhìn từ xa… tổ quốc”
vào những ngăn ô dựng sẵn, nào trữ tình chính trị, trữ tình công dân, nào hiện
thực chủ nghĩa, cảm khái thời thế, nào thế sự, thời sự, hay nói chí tỏ lòng đời
mới, cảm hoài, thuật hoài đời nay … Xin đừng uổng công, nhọc sức thế! Đừng lạnh
lòng quá thế!
“Nhìn từ
xa… Tổ quốc” không từ chối những thứ chứng chỉ hay nguyệt quế như vậy. Nhưng,
đơn giản, nó là thơ tuẫn tiết, vậy thôi!
Được viết
năm 1988, mà lạ, “Nhìn từ xa… tổ quốc” vẫn cứ như vừa được viết ra, còn chưa
ráo mực. Sức mạnh tiên tri của cái tầm hay nỗi đau đớn tận cùng của cái tâm ?
Làm sao phân biệt được. Chỉ biết nó đã được cất lên bởi Sứ mạng. Sứ mạng một
nhà thơ. Sứ mạng một thảo dân.
Nghĩ cũng
vui, cách đây ít hôm, tại đảo sen hồ Tây, trong cuộc đàm đạo bạn bè, Nguyễn Duy
có đọc bài thơ này. Thì có tao nhân dự cuộc cứ tưởng nó là sáng tác… mới toanh.
Xuân Nhâm
Ngọ 2014

