Hoài niệm, tiếc nuối tác phẩm này, bài thơ nọ của thời mình được học đến mức như vậy liệu có đúng không? Sao cứ lấy cái cảm xúc, ước muốn của mình mà “áp’ cho con trẻ khi các cháu đã quá khác trong một thời đại đổi thay nhanh chóng.


VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN HIỆN HÀNH

LÊ QUANG HƯNG

 

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Ngữ văn thay đổi nhiều so với trước, theo định hướng cơ bản: chuyển trọng tâm từ cung cấp kiến thức sang phát triển năng lực, bồi dưỡng phẩm chất. Từ đó, nội dung, cấu trúc SGK cũng thay đổi thích ứng và thước đo chung nhất, cao nhất kết quả biên soạn SGK là có theo sát, có đáp ứng đầy đủ yêu cầu cần đạt, nội dung dạy học của Chương trình (CT) hay không.

Với tinh thần trên, SGK Ngữ văn các bậc, các lớp được tổ chức hệ thống bài học theo thể loại văn học, loại hình văn bản kết hợp với chủ đề (nội dung) gắn với đức tính cần rèn luyện, phẩm chất cần bồi dưỡng. Trong từng bài học của sách đều có các phần lần lượt theo các hoạt động Đọc hiểu văn bản, Viết, Nói và Nghe. Từ cái gốc là Chương trình, từ cách tổ chức bài học này sẽ nảy sinh những đổi thay cần thiết, tất yếu, nảy sinh những ưu điểm và nhược điểm ngày càng bộc lộ rõ.

Chương trình rồi SGK đã có ý thức bám sát/làm rõ đặc trưng thể loại – hình thức tồn tại của văn bản, đơn vị phát triển chủ yếu của lịch sử văn học. Điều này liên quan trực tiếp đến kỹ năng đọc hiểu, năng lực văn học của học sinh.

Khái niệm “Ngữ văn” được mở rộng (thật ra trước cũng đã “mở” rồi, bây giờ rõ hơn). Học sinh bây giờ không chỉ học tác phẩm sáng tác – hình tượng nữa mà đọc hiểu, phân tích không ít loại hình văn bản nghị luận (nhất là nghị luận xã hội), văn bản thông tin. Điều này cần thiết đối với người học trong thời đại ngày nay (dù nên bớt văn bản thông tin để dành chỗ cho tác phẩm văn học).

Môn Ngữ văn góp phần tích cực trong việc giáo dục, bồi dưỡng những đức tính, phẩm chất mới, cần thiết đối với con người trong xã hội hiện đại, bên cạnh việc vẫn tiếp tục giáo dục và làm mới các phẩm chất, tình cảm mang tính truyền thống.

Chính những thay đổi mang tính tất yếu, cần thiết trên là một nguyên nhân khiến không ít người băn khoăn, thậm chí hoang mang la lối quá mức. Hoài niệm, tiếc nuối tác phẩm này, bài thơ nọ của thời mình được học đến mức như vậy liệu có đúng không? Sao cứ lấy cái cảm xúc, ước muốn của mình mà “áp’ cho con trẻ khi các cháu đã quá khác trong một thời đại đổi thay nhanh chóng (Đừng vội cho tôi là người coi thường các tình cảm “truyền thống” nhé!).

Lẽ thường, khi thêm chỗ này thì phải bớt chỗ kia khi trong một khung giờ tổ chức dạy học vẫn như vậy, thậm chí đang tìm cách giảm tải. Thế hệ học sinh ngày nay hiển nhiên có những sở thích, suy nghĩ không hoàn toàn như ông cha và cần được hình thành nhiều năng lực, bồi dưỡng các phẩm chất mới nữa. Ngay khái niệm “yêu nước” giờ đây cũng cần mở rộng, phát triển chứ đâu loanh quanh những mâu thuẫn giai cấp, xung đột địch – ta…

Nhân đây cũng xin chỉ ra một sự thực là không ít người (kể cả một số nhà văn có tiếng) chưa đọc kĩ Chương trình, chưa xem hết SGK mà cứ lớn tiếng qui kết, “báo động” này nọ. Không ít người nghe hơi nói chõ, chửi góp cho sướng miệng.

Tôi khẳng định đó là sự thực, bởi nếu chịu khó đọc, chịu khó tìm hiểu thì sẽ không nói như vậy. Xin các vị này mua đủ bộ SGK Ngữ văn từ lớp 1 đến lớp 12, mỗi lớp 2 tập, và đọc rồi thống kê, thử tính xem văn thơ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, văn thơ yêu nước và cách mạng còn dạy những gì, bỏ bớt những gì. Nhớ cho rằng SGK bậc THPT ở cả ba lớp đều có bài riêng (như chương trước đây) về các tác gia tiêu biểu trong lịch sử văn học dân tộc. Lớp 10 là Nguyễn Trãi. Lớp 11 là Nguyễn Du. Lớp 12 là Hồ Chí Minh. Đây là các bài/chương chiếm nhiều số tiết dạy học hơn cả so với những bài/chương khác. Riêng với văn thơ Hồ Chí Minh còn học ở nhiều lớp khác nữa.

* * *

Bên cạnh các nỗ lực đổi mới, các ưu điểm. Chương trình Ngữ văn 2018 cùng SGK hiện hành có không ít nhược điểm, hạn chế mà qua thực tế không ít người, không ít thầy cô giáo đã nhận ra. Vấn đề là nhận ra ở các mức độ khác nhau và đã dám nói, có dịp nói ở các mức độ khác nhau.

Trước khi trình bày về mặt này, xin chia sẻ một cảm nghĩ: Từ khi thực hiện chủ trương một chương trình, nhiều bộ SGK (xã hội hóa việc biên soạn, xuất bản SGK), quan niệm về SGK hình như đã đổi khác. Nó không còn “thiêng liêng” như trước, không còn tính pháp lí như trước. Từ việc chọn người biên soạn dến việc chọn văn bản, ngữ liệu dạy học thể hiện rõ sự dễ dãi này. Chỉ nên đưa vào SGK những gì hầu như đã thành kinh điển, đã ổn định giá trị, đã được thời gian sàng lọc (dù khó lòng tuyệt đối). Người biên soạn cần “cảnh giác” với ước muốn cập nhật, với mục đích giáo dục phẩm chất theo lối trực tiếp, với nhân thân (chưa thật ổn định, chưa “khép lại”) của tác giả văn bản. Các trường hợp Nguyễn Thế Hoàng Linh, Hà Thủy Nguyên… gợn lên điều này.

Sau đây là những nhược điểm, bất cập cơ bản của Chương trình và SGK Ngữ văn hiện hành:

1.

Hầu như không giới thiệu, tái dựng được tiến trình văn học dân tộc, khiến học sinh rất non yếu kiến thức về lịch sử văn học dân tộc.

Một học sinh trình độ tú tài (tốt nghiệp THPT) cần nắm được (trên những điểm cơ bản thôi) các thời kì, giai đoạn trong lịch sử văn học dân tộc mình, cần nhớ được bối cảnh lịch sử, tình hình văn hóa, các đặc điểm, giá trị cơ bản của văn học thời kì, giai đoạn đó cùng một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu.

Học theo chương trình, SGK Ngữ văn mới, phần lớn các em thật thiếu hụt tri thức cần thiết này (trừ học sinh chuyên văn khi được học các chuyên đề mở rộng, nâng cao) bởi bố cục bài học ở mọi lớp đều đi theo trục thể loại. Học thế này, rồi nhiều học sinh sẽ không biết cuộc cách mạng lớn lao của Thơ mới 1932 – 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc (so sánh với thơ trung đại), sẽ không chắc Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương… ai trước ai sau. Nhiều học sinh sắp tốt nghiệp THPT không trình bày nổi (chỉ trên những nét lớn) hai truyền thống / giá trị cơ bản của văn học Việt Nam (chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo).

2.

Các em không còn được học về những vấn đề thiết yếu của lý luận văn học ở mức cần thiết. SGK giờ đây không có riêng một số bài về lý luận văn học như trước nữa mà tri thức về lĩnh vực này được thể hiện qua một số khái niệm thuộc mục “Tri thức ngữ văn” nằm đầu các bài học. Mục này thường viết ngắn, gọn nên không đủ kiến thức cần thiết. Bố cục hệ thống bài học theo thể loại, loại hình văn bản nhưng ngay kiến thức về từng thể loại cũng đã được giới thiệu tập trung, đầy đủ chỗ nào đâu. Tri thức về một thể loại bị cắt xé ra nhiều bài, thành ra học sinh khó có cái nhìn chỉnh thể, khó hiểu biết trọn vẹn.

Học môn Ngữ văn, không thể không hiểu đặc trưng của văn học, đặc điểm ngôn ngữ văn học, quá trình văn học và phong cách nghệ thuật của nhà văn…

3.

Việc chia nhỏ, vụn thể loại trong Chương trình (nhằm đỡ trùng lặp khi tổ chức bài/chương của sách) đã gây khó cho người biên soạn SGK khi chọn văn bản, đã khiến giáo viên và học sinh phải xử lí một số tri thức không thật cần thiết. Có cần chia hẳn thành thể loại truyện truyền kì, truyện trinh thám, truyện viễn tưởng khi tổ chức bài học không? Chia tách thơ Đường luật với thơ trào phúng liệu có đúng không khi một cái là chuyện thể loại, một cái là chuyện đề tài, nội dung? Giữa bút kí với tùy bút liệu có ranh giới rõ ràng (nên có sự băn khoăn với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường)?

Ở bậc THCS (lớp 8, lớp 9) đã vội phân biệt dạy học bi kịch, hài kịch. Lên bậc THPT (lớp 11, lớp 12) lại tiếp tục thế, trong khi thật chuẩn bi kịch ở văn học Việt Nam có lẽ chỉ vở “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng… Vì phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu cần đạt, nội dung dạy học của chương trình, vì phải hợp chủ đề nên người biên soạn SGK có khi đành chọn tác phẩm, văn bản chưa thể hay, dễ gây thắc mắc.

Trong việc chọn văn bản, ngữ liệu dạy học, một yêu cầu quan trọng là phải phù hợp với lứa tuổi, nghĩa là nên đặt ở lớp nào cho đúng. SGK hiện hành còn vấn đề ở chỗ này. Chẳng hạn, học sinh lớp 8 khó lòng cảm nhận được bài thơ “Lá đỏ” (Nguyễn Đình Thi). Các em làm sao “sống” với không khí cả nước ra trận thời đánh Mĩ, khó mà “thấm” được vai trò của tuyến đường Trường Sơn (về vị trí địa lí, về vai trò lịch sử, về những đoàn quân ra trận và những cô gái giao liên, Thanh niên xung phong…). Từ đó, làm sao các em cảm nhận, rung động nổi trước vẻ đẹp, ý nghĩa của hình ảnh “Em đứng đó / như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường…”. Không thể cảm nhận đúng, phân tích sâu tác phẩm văn học nếu không hiểu môi trường sinh thành của nó, không đặt nó trong hoàn cảnh xã hội, lịch sử cụ thể nó ra đời, nó phản ánh. Điều này lại liên quan đến việc ra đề kiểm tra đánh giá, ra đề thi mà sau tôi sẽ nói rõ hơn.

4.

Bố cục bài học máy móc hay cách phân công biên soạn khiến SGK có những chỗ nặng nề, trùng lặp.

Bài học nào trong SGK cũng lần lượt/đầy đủ các phần, các hoạt động Đọc hiểu, Viết, Nói và Nghe. Vậy chia nội dung/vấn đề cho từng phần, từng hoạt động thế nào? Hiển nhiên khó lòng đòi hỏi phần dạy/luyện kiểu bài của Viết lúc nào cũng phù hợp với thể loại văn bản của phần Đọc hiểu trước, khó lòng đòi hỏi nội dung/dạng thức của Viết và Nói - Nghe lúc nào cũng tương ứng với nhau. Nhưng có thực tế là số lượng kiểu/dạng thức của yêu cầu Viết không đủ để phân khắp các bài học trong sách. Vậy một giải pháp tình thế của nhóm biên soạn là chia nhỏ thành các vấn đề, nội dung (cùng một kiểu bài).

Thực ra, vấn đề/nội dung cụ thể thì khác nhau nhưng phương pháp, kĩ năng của kiểu bài cơ bản cũng thế thôi. Thành ra chỗ thiếu chỗ thừa. Lẽ ra tập trung vào một chỗ, một bài cho đủ, cho sâu thì chưa có. Còn nơi, còn đoạn ở bài khác thì đâm ra thừa, lặp. Vẫn kiểu bài ấy, khi thay đổi đề tài, nội dung cụ thể thì bài sau chỉ cần có một số lưu ý, nhấn mạnh thêm thôi. Bố cục sách cần làm sao đỡ máy móc hơn, thanh thoát hơn.

Tích hợp là cần thiết. Song tích hợp ngay trong từng bài học là chuyện cần cân nhắc. Trong thực tế, nhiều giáo viên không hoàn toàn theo trình tự các hoạt động, theo phân bố số tiết của bài học trong SGK mà đã thực hiện tổ chức, tổ hợp lại.

5.

Ở trên đã nói đến chuyện mấy năm nay SGK bị giảm đi “tính thiêng liêng”, thậm chí bị coi thường. Phải thấy rằng chính chủ trương về ra đề kiểm tra, đánh giá, ra đề thi đã “góp phần quan trọng” tạo nên tâm lí ấy, tạo nên thực tế không thể né tránh ấy. Đề kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đề thi chuyển cấp, tốt nghiệp… không được sử dụng văn bản, ngữ liệu trong SGK – chủ trương như thế để tránh học tủ, chống văn mẫu. Nên hiểu, nên thực hiện điều này thế nào cho đúng?

Nếu ra đề kiểu nhiều năm trước đây – chẳng hạn phân tích một nhân vật, phân tích một đoạn thơ, đoạn văn nào đó trong tác phẩm thuộc SGK – thì khiến học sinh dễ viết cái tủ sẵn, dễ viết theo bài mẫu đã được học. Nhưng nếu hỏi về một vấn đề (văn học, xã hội) nào đó được gợi lên từ tác phẩm đã học trong SGK, nếu yêu cầu mở rộng, liên hệ sang các tác phẩm khác… thì có “tủ”, có “mẫu” được không? Đánh giá cái mới, cái riêng trong bài văn đâu chỉ là chuyện đối tượng mới, ngữ liệu mới mà quan trọng là vấn đề khai thác, cách khai thác. Chung qui vẫn là chuyện ngại suy nghĩ, chuyện trình độ của người làm đề. Thôi, cứ đọc hiểu, phân tích một văn bản hoàn toàn ngoài SGK là an toàn!

Từ đây dẫn đến chuyện không ít văn bản, ngữ liệu dùng làm đề kiểm tra, đề thi ở một số địa phương, ở cả tầm quốc gia “có vấn đề”, chẳng mấy giá trị. Mặt nữa, nếu học sinh không được hiểu đủ, hiểu đúng bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, sinh động của văn bản thì sự cảm nhận chỉ chung chung, việc phân tích chỉ hời hợt mà thôi.

Chủ trương kiểm tra, đánh giá như trên đã dẫn đến một thực tế đáng buồn: cái tâm huyết của không ít giáo viên không phải là tập trung dạy kĩ tác phẩm trong SGK mà lo tìm những văn bản, ngữ liệu khác để cho học sinh luyện. Thi gì học nấy vẫn là tâm lí, thói quen khó dứt nổi của giáo dục mình lâu nay.

* * *

Đổi mới mạnh mẽ là cần thiết song dè chừng dẫn đến cực đoan. Cần xác định rõ tri thức tối thiểu, cần thiết đối với môn Ngữ văn ở từng bậc học là những gì. Đừng tách rời máy móc giữa tri thức với năng lực, phẩm chất. Tri thức chính là một phần quan trọng của năng lực. Năng lực khó thể hình thành, khó thể vững vàng, phẩm chất khó lòng được vun đắp, được củng cố nếu không có nền tảng tri thức đầy đủ, chính xác. Nếu cứ thế này, kiến thức văn chương của một học sinh tốt nghiệp THPT sao vẫn chông chênh, mỏng mảnh.

Chuyện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, chuyện SGK hiện hành là chuyện đáng bàn, nên bàn. Qua quá trình làm các công việc liên quan, qua tiếp xúc với không ít giáo viên, học sinh, tôi chia sẻ mấy suy nghĩ như vậy, Các điều cụ thể, chi tiết hơn, nếu cần sẽ trình bày vào dịp khác.

                                         Vào đầu năm học mới 2026 – 2027

 

 

Nguồn: Facebook Lê Quang Hưng