Triển lãm “Những mùa hoa trong ký ức” của Đỗ Mạnh Cường chứng minh sức mạnh của công nghiệp văn hóa đại chúng khi biết tận dụng hiệu ứng lan tỏa của truyền thông để kích cầu thị trường, kéo đám đông đến với các không gian nghệ thuật và kích hoạt một dòng năng lượng tiêu dùng nghệ thuật mới.
“HIỆN TƯỢNG”
ĐỖ MẠNH CƯỜNG VỚI TRIỂN LÃM “NHỮNG MÙA HOA TRONG KÝ ỨC” - TỪ GÓC NHÌN RỘNG HƠN
NGUYÊN
HƯNG
Sự kiện
nhà thiết kế Đỗ Mạnh Cường tổ chức triển lãm tranh mang tên "Những mùa hoa
trong ký ức" tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã làm bùng lên
những cuộc tranh luận gay gắt trong giới chuyên môn và truyền thông đại chúng.
Hiện tượng này không đơn thuần là câu chuyện về một cá nhân lấn sân sang hội họa,
mà đã phơi bày những dịch chuyển sâu sắc trong cấu trúc, thị hiếu và sự vận
hành của hệ sinh thái văn hóa Việt Nam đương đại. Để thấu suốt bản chất của vấn
đề, hiện tượng này cần được bóc tách và soi chiếu một cách sòng phẳng dưới ba
lăng kính cốt lõi: Mỹ học thuần túy, Xã hội học nghệ thuật và Lý thuyết hệ sinh
thái văn hóa.
HIỆN TƯỢNG
ĐỖ MẠNH CƯỜNG DƯỚI LĂNG KÍNH MỸ HỌC THUẦN TUÝ
Nhìn nhận
một cách thẳng thắn từ góc độ bản thể luận của nghệ thuật, triển lãm của Đỗ Mạnh
Cường hoàn toàn không phải là một hiện tượng nghệ thuật. Khi đặt các tác phẩm
này lên bàn cân của hệ giá trị học thuật hay tính tiên phong hội họa, chúng lập
tức bộc lộ sự trống rỗng về cả nội dung lẫn hình thức. Tranh của anh không chạm
vào hiện thực xã hội, không thao thức trước những biến động lịch sử và không biểu
đạt các chiều kích sâu kín của nhân sinh. Đó là những bức họa thiếu vắng sự
phơi bày bản ngã, nơi người nghệ sĩ dấn thân và vật lộn với tư duy thẩm mỹ cá
nhân. Về mặt kỹ nghệ, loạt tác phẩm này không mang lại bất kỳ một đóng góp mới
mẻ nào cho ngôn ngữ hội họa, cấu trúc tạo hình hay kỹ thuật xử lý chất liệu.
Chúng dừng lại ở mức độ minh họa trực quan, nông viền và quen thuộc. Do đó, việc
bàn luận hay tranh biện về các tác phẩm này ở các diễn đàn học thuật chuyên sâu
là một điều bất khả và khiên cưỡng.
Bản chất
thực thực chất của “Hiện tượng Đỗ Mạnh Cường” thuộc về phạm trù truyền thông,
văn hóa đại chúng và văn hóa thương mại. Sức hút của triển lãm không được tạo
ra từ giá trị tự thân của các bức tranh, mà được bảo chứng bởi danh tiếng, quyền
lực và tầm ảnh hưởng sẵn có của một nhà thiết kế thời trang hàng đầu trong làng
giải trí. Buổi khai mạc triển lãm biến thành một sự kiện thảm đỏ hoành tráng với
sự góp mặt và hậu thuẫn của đông đảo người nổi tiếng thuộc giới ngôi sao, mẫu ảnh
và nghệ sĩ biểu diễn. Sự rộn ràng này, cùng với những xúc cảm thị phi hay những
phản ứng cơ hội ồn ào từ dư luận, xét đến cùng, là những biểu hiện tất yếu và
bình thường trong một môi trường truyền thông mang tính dân chủ và đa nguyên.
Công chúng có quyền tò mò, người nổi tiếng có quyền ủng hộ bạn bè, và thị trường
có quyền vận hành theo quy luật cung cầu của nó.
Điểm bất
thường và nguy hiểm thực sự ở đây không nằm ở bản thân Đỗ Mạnh Cường hay các
tác phẩm của anh, mà bắt đầu từ sự bất phân trong phản ứng của giới truyền
thông mỹ thuật và các định chế học thuật chính thống. Sự mập mờ, thiếu rạch ròi
của các nhà quản lý, hội đồng nghệ thuật và một bộ phận cây bút phê bình khi
không dám vạch rõ ranh giới giữa một sự kiện giải trí thương mại với một triển
lãm nghệ thuật hàn lâm đã tạo ra một sự đánh lận con đen nguy hại. Việc một bảo
tàng mỹ thuật cấp quốc gia cho thuê không gian hoặc bảo chứng cho một hiện tượng
thuần túy truyền thông mà không có sự định vị tường minh đã vô tình xóa nhòa
ranh giới giá trị, khiến công chúng đại chúng rơi vào trạng thái nhiễu loạn
thông tin thẩm mỹ.
SỰ LẶP LẠI
CỦA LỊCH SỬ VÀ BÀI HỌC TỪ THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Hiện tượng
này không phải là cá biệt hay chưa từng có tiền lệ. Đi ngược dòng thời gian của
nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam về giai đoạn đầu thời kỳ Đổi mới, chúng ta sẽ bắt
gặp những hiện tượng có sự tương đồng đến kinh ngạc. Đó là “hiện tượng Trương
Tuấn Kiệt” với dòng tranh “Phố Hoa” làm mưa làm gió trên thị trường mỹ thuật
tiêu dùng, và “hiện tượng Xuân Kỳ” trong điện ảnh với một loạt bộ phim diễm
tình, thị trường như “Ngã ba lòng”, “Oan tình”, “Tiếng khóc dậy thì”, hay “Nữ
sinh quý tộc”.
Vào thời
điểm đó, đối với những người làm chuyên môn khắt khe trong giới mỹ thuật, việc
mang tranh “Phố Hoa” của Trương Tuấn Kiệt ra đặt cạnh hay so sánh với dòng
tranh “Phố Phái” của bậc thầy Bùi Xuân Phái là một sự điên rồ và xúc phạm nghệ
thuật. Tương tự, trong giới điện ảnh, việc đặt những bộ phim mì ăn liền mang
tính giải trí bình dân của đạo diễn Xuân Kỳ chung mâm với những kiệt tác điện ảnh
giàu tính sử thi, nhân văn của đạo diễn Hồng Sến cũng bị coi là một sự lệch lạc
hoàn toàn về mặt nhận thức thẩm mỹ.
Trải qua sự
sàng lọc nghiệt ngã của thời gian, sự phân định giá trị cuối cùng đã được phơi
bày một cách sòng phẳng và rõ ràng. Tên tuổi của những bậc thầy như Bùi Xuân
Phái, Hồng Sến vẫn sừng sững như những tượng đài, những cột mốc không thể dịch
chuyển trong lịch sử nghệ thuật nước nhà nhờ vào giá trị tư tưởng sâu sắc và
tính tiên phong độc sáng. Ngược lại, tên tuổi của Trương Tuấn Kiệt hay Xuân Kỳ,
dù từng sở hữu hào quang thương mại lộng lẫy và sự săn đón cuồng nhiệt của đám
đông một thời, thì nay đã nhạt nhòa dần và hầu như chỉ còn tồn tại trong ký ức
hoài niệm của những người cùng thời. Lịch sử đã chứng minh rằng hào quang truyền
thông và doanh thu thương mại có vòng đời rất ngắn, chúng chỉ là những bong
bóng xà phòng nếu không được đỡ nâng bởi cốt tủy của giá trị nghệ thuật đích thực.
CÁI NHÌN
SÒNG PHẲNG DƯỚI GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC NGHỆ THUẬT
Tuy nhiên,
nếu chỉ dừng lại ở việc dùng lăng kính mỹ học thuần túy để phủ nhận và hạ thấp
các hiện tượng thương mại thì đó lại là một cái nhìn phiến diện, thiếu sòng phẳng.
Xã hội học nghệ thuật đòi hỏi một sự đánh giá khách quan hơn về công năng xã hội
và vai trò lịch sử của các hiện tượng này trong việc kiến tạo cơ sở hạ tầng văn
hóa. Dù Trương Tuấn Kiệt hay Xuân Kỳ không thể bước vào ngôi đền thiêng của lịch
sử nghệ thuật bác học, họ hoàn toàn xứng đáng là những đối tượng tiêu biểu, những
lát cắt sống động cho các nghiên cứu về xã hội học nghệ thuật của một thời kỳ lịch
sử.
Thực tế lịch
sử buộc phải thừa nhận rằng dòng tranh “Phố Hoa” của Trương Tuấn Kiệt đã đóng
góp một vai trò rất lớn vào sự phát triển của thị trường nghệ thuật mang tính đại
chúng, đáp ứng trực tiếp nhu cầu trang trí nhà cửa của tầng lớp thị dân mới nổi,
đặc biệt là ở đô thị Sài Gòn thời kỳ mở cửa. Dòng tranh này đã bình dân hóa nghệ
thuật, đưa hội họa ra khỏi tháp ngà của giới tinh hoa để đi vào đời sống hằng
ngày của người dân. Qua đó, nó góp phần quan trọng vào sự đa dạng hóa và mở rộng
không gian định chế của mỹ thuật Việt Nam, tạo tiền đề cho một nền kinh tế nghệ
thuật sơ khai hình thành.
Trong địa
hạt điện ảnh, dòng phim của Xuân Kỳ cũng gánh vác một sứ mệnh tương tự. Câu nói
cửa miệng truyền tai nhau của dân làm nghề ở Sài Gòn thuở ấy: "Lý Huỳnh,
Hai Nhất, Xuân Kỳ / Thiếu ba ông ấy làm gì có phim" đã nói lên vai trò sống
còn của những nhà làm phim thương mại này. Chính dòng phim bị coi là thấp cấp,
mì ăn liền đó lại là nguồn lực tài chính chủ đạo nuôi sống cả bộ máy sản xuất
điện ảnh trong giai đoạn khủng hoảng bao cấp. Nó tạo công ăn việc làm cho đội
ngũ diễn viên, kỹ thuật viên, vận hành hệ thống rạp chiếu và quan trọng nhất là
duy trì, nuôi dưỡng thói quen mua vé ra rạp của công chúng. Không có một nền điện
ảnh thương mại sống khỏe với dòng tiền luân chuyển liên tục, điện ảnh nghệ thuật
đỉnh cao sẽ hoàn toàn mất đi bệ đỡ cơ cấu để tồn tại.
Từ góc
nhìn xã hội học, các tên tuổi này đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự định
hình và phát triển của một cơ sở hạ tầng văn hóa nghệ thuật mang tính trang trí
và giải trí tại Việt Nam, cả trên bình diện cấu trúc xã hội lẫn tâm lý tiêu
dùng của công chúng. Chiếu theo logic đó, hiện tượng Đỗ Mạnh Cường ngày nay
cũng đang lập lại đúng công năng xã hội này. Triển lãm của anh chứng minh sức mạnh
của công nghiệp văn hóa đại chúng khi biết tận dụng hiệu ứng lan tỏa của truyền
thông để kích cầu thị trường, kéo đám đông đến với các không gian nghệ thuật và
kích hoạt một dòng năng lượng tiêu dùng nghệ thuật mới. Đối với một bộ phận
công chúng hiện đại, việc mua tranh hay thưởng thức nghệ thuật giờ đây gắn liền
với việc định hình lối sống, sự trải nghiệm cái đẹp trực quan và nhu cầu bài
trí không gian sống cao cấp.
MÔ HÌNH
KIM TỰ THÁP VÀ HỆ SINH THÁI VĂN HOÁ TOÀN DIỆN
Để tránh
việc rơi vào cái bẫy đối lập nhị nguyên mang tính triệt tiêu lẫn nhau giữa nghệ
thuật bác học và nghệ thuật đại chúng, chúng ta cần nhìn nhận toàn bộ vấn đề dựa
trên mô hình kim tự tháp của một chỉnh thể văn hóa nghệ thuật toàn diện. Mọi nền
nghệ thuật có sức sống mạnh mẽ và bền vững trên thế giới đều phải tồn tại trong
một hệ sinh thái cộng sinh hữu cơ, nơi không có chỗ cho việc phân định thắng
thua một cách cực đoan.
Trong mô
hình kim tự tháp này, phần Đỉnh biểu trưng cho nghệ thuật bác học, tức là những
tìm tòi, thể nghiệm sáng tạo mang tính tiên phong, độc sáng và đi trước thời đại
của các thành phần ưu tú trong xã hội. Phần Đáy đại diện cho nghệ thuật đại
chúng, nơi tập trung khả năng sản xuất quy mô lớn và sức tiêu thụ rộng khắp của
đại đa số công chúng. Đỉnh và Đáy không phải là hai thế giới biệt lập, đối
kháng, mà chúng gắn kết với nhau bằng một mối quan hệ hữu cơ mật thiết.
Một mặt,
phần Đỉnh chỉ có thể vươn lên những tầm cao mới khi và chỉ khi phần Đáy không
ngừng được mở rộng và củng cố vững chắc. Một nền mỹ thuật không thể có những kiệt
tác tầm cỡ thế giới nếu nền tảng thưởng thức của công chúng quá nghèo nàn, thị
trường tranh nội địa đóng băng và không có dòng tiền tái đầu tư cho nghệ sĩ. Sự
khỏe mạnh, giàu có của phần Đáy về mặt kinh tế và quy mô tệp khán giả chính là
bệ đỡ, là nguồn lực vật chất dồi dào để nuôi dưỡng những tài năng ở phần Đỉnh
an tâm dấn thân vào các cuộc phiêu lưu nghệ thuật thuần túy.
Mặt khác,
phần Đáy chỉ có thể mở rộng và nâng cao chất lượng khi những giá trị tinh hoa
mang tính bác học tìm thấy ở phần Đỉnh được thẩm thấu, giản lược và chuyển hóa
thành những giá trị mang tính phổ cập. Quá trình này đóng vai trò như một nguồn
dinh dưỡng bồi bổ, nâng cấp thị hiếu của đại chúng một cách từ từ. Chính nhờ mối
quan hệ tương tác, chuyển hóa hai chiều liên tục này mà các tác phẩm nghệ thuật
đơn lẻ mới có thể chuyển hóa thành các giá trị văn hóa mang tính phổ quát của cộng
đồng. Và cũng chính từ đây, các giá trị văn hóa mang tính truyền thống nội sinh
hay ngoại lai mới được tích hợp, biến đổi liên tục trong các dòng chảy mỹ thuật,
tạo nên những truyền thống văn hóa mới thích nghi hoàn hảo với hơi thở của thời
đại.
Khi soi
chiếu hiện tượng Đỗ Mạnh Cường vào mô hình này, chúng ta thấy rõ triển lãm của
anh hoàn toàn nằm ở phần Đáy của kim tự tháp. Sự ồn ào, náo nhiệt của hiện tượng
này là một tín hiệu cho thấy phần đáy của thị trường nghệ thuật tiêu dùng đang
vận động rất sôi nổi. Việc giới chuyên môn giận dữ chỉ là một phản ứng tự vệ
khi họ cảm thấy ranh giới bị xâm phạm, hoặc khi có sự nhầm lẫn tai hại trong việc
định vị vị trí của hiện tượng này trong cấu trúc tổng thể.
BI KỊCH CỦA
SỰ CÀO BẰNG VÀ BẤT PHÂN
Mặc dù sự
tồn tại của phần Đáy là tất yếu và mang lại nhiều giá trị xã hội học, nhưng sự
sòng phẳng trong phê bình buộc phải đi kèm với một lời cảnh báo nghiêm chỉnh về
nguy cơ của sự cào bằng và bất phân. Một nền văn hóa chấp nhận sự đa dạng nhưng
nếu đánh mất khả năng bộ lọc, để cho sự cào bằng giá trị thống trị, thì nền văn
hóa đó đang tự hủy hoại chính mình từ bên trong.
Trí tuệ
dân gian từ ngàn xưa xem ra sáng suốt, tường minh và có tầm nhìn xa trông rộng
hơn rất nhiều so với những người làm truyền thông và quản lý văn hóa nghệ thuật
ngày nay. Điều đó được đúc kết một cách tuyệt vời qua câu nói truyền miệng mang
tính triết lý sâu sắc: “Sách để đọc, Phật để thờ, chiêng trống dành cho phiên
chợ và hạt giống dành cho mai sau”. Đây không phải là một tư duy phân biệt đẳng
cấp phong kiến, mà là sự minh triết trong việc phân định vạn vật vào đúng vị
trí, công năng và không gian giá trị nguyên bản của chúng để giữ gìn sự hài hòa
xã hội.
"Sách"
đại diện cho tri thức, học thuật, cần sự tĩnh lặng, nghiêm túc và nghiền ngẫm
sâu xa để thấu suốt. "Phật" đại diện cho đức tin, tâm linh và những
giá trị thiêng liêng tối cao của con người, đòi hỏi sự tôn kính, trang nghiêm
và biệt lập khỏi những toan tính thế tục. "Chiêng trống" đại diện cho
âm thanh náo nhiệt, vui vẻ, thuộc tính của giải trí, của hội hè và thương mại
công cộng; và vị trí thích hợp nhất của nó phải là ở "phiên chợ". Cuối
cùng, "hạt giống" chính là những giá trị cốt lõi, tinh túy, mang tính
tiên phong và sinh sản, cần phải được cất giữ, bảo tồn một cách nghiêm ngặt
trong những kho tàng chuyên biệt để làm điểm tựa, làm nguồn sống cho các thế hệ
mai sau.
Bi kịch của
sự bất phân thời hiện đại xảy ra khi những người nắm giữ quyền lực truyền thông
và quản lý văn hóa lại mang “chiêng trống của phiên chợ” đặt vào không gian “để
thờ Phật” hoặc không gian yên tĩnh của việc “đọc sách”, rồi tuyên bố rằng tất cả
đều có giá trị ngang nhau. Việc đưa một hiện tượng thuần túy mang tính giải trí
thương mại, thuộc về phiên chợ truyền thông như tranh của Đỗ Mạnh Cường hiện tại
vào trưng bày tại một bảo tàng mỹ thuật chính thống mà không có một sự phân định
không gian hay định vị học thuật rõ ràng, chính là một hành vi cào bằng nguy hiểm.
Sự cào bằng
này gây ra hai hệ lụy nghiêm trọng cho hệ sinh thái văn hóa. Trước hết, nó làm
tổn thương và hạ thấp các giá trị cao cả, làm xói mòn uy tín của các định chế học
thuật vốn được lập ra để bảo tồn "hạt giống cho mai sau". Khi thánh
đường nghệ thuật bị biến thành một sân khấu sự kiện cho thuê, căn tính chuyên
môn của nó sẽ bị lung lay. Thứ hai, sự cào bằng này tước đoạt đi quyền được tiến
hóa của chính công chúng đại chúng. Nó ru ngủ đám đông trong một ảo tưởng thẩm
mỹ rằng những sản phẩm trang trí, giải trí thời thượng kia đã là đỉnh cao của
nghệ thuật đích thực. Khi không còn một hệ quy chiếu rõ ràng giữa cái tầm thường
và cái vĩ đại, giữa chiêng trống phiên chợ và kinh sách học thuật, công chúng sẽ
mất đi động lực để nâng cao thị hiếu, phần Đáy của kim tự tháp sẽ mãi mãi dậm
chân tại chỗ trong sự dung tục, và phần Đỉnh cũng sẽ lụi tàn vì thiếu đi sự
kích thích từ những đòi hỏi khắt khe của một nền phê bình tỉnh táo.
Văn hóa cần
phiên chợ, cần sự náo nhiệt của chiêng trống để duy trì dòng máu kinh tế và sự
vui tươi của đời sống đại chúng. Trí tuệ dân gian chấp nhận phiên chợ, nhưng
người xưa không bao giờ nhầm lẫn chiêng trống với hạt giống hay kinh sách. Hiện
tượng Đỗ Mạnh Cường có thể thành công rực rỡ và đáng được ghi nhận ở không gian
của một phiên chợ truyền thông đại chúng, nhưng các định chế văn hóa và giới
truyền thông phải có đủ bản lĩnh, sự tỉnh táo và sự liêm chính trí tuệ để không
biến thánh đường nghệ thuật thành một cái chợ cào bằng giá trị.
Saigon, 20/9/2026

