Một chiều mưa nặng hạt. Tôi tới phòng lưu niệm nhà thơ Trần Huyền Trân (1913-1989) để tìm xem bản thảo chỉnh lý, cải biên chèo cổ “Quan âm thị Kính” (in năm 1957) của ông. Anh Trần Kim Bằng, con trai nhà thơ đón tôi với bộ tài liệu chồng chất trên bàn. Phía trước nhà là một công viên rộng lớn. Nghe nói trước kia là một hồ rau muống. Những tia nắng phấp phỏng trong từng đợt mưa rào. Lòng tôi chợt rưng rưng nhớ: “Mưa bay trắng lá rau tần/ Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa” (Thu-Trần Huyền Trân).


THẲM SÂU BI KỊCH TÂM HỒN

Cái tên Trần Huyền Trân gắn với nhiều thi phẩm nổi tiếng: “Uống rượu với Tản Đà”, “Cái thai hoang”, “Độc hành ca”; Hoặc còn đó “Những cánh thơ vàng”. “Tương tư”, “Sầu chung”…Đây là thời kỳ sáng tác sôi động của nhà thơ Trần Huyền Trân trong nhóm thơ Tam Anh (gồm Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân và Thâm Tâm) ở phố Khâm Thiên. Họ cùng làm báo và cùng nổi tiếng trong diễn đàn thi ca “Áo bào gốc liễu” ở tuổi đôi mươi. Thơ Trần Huyền Trân có sắc thái riêng biệt, trĩu nặng bi kịch nội tâm nhưng bộc lộ một thần thái rất nghệ sĩ. Ông cất lên tiếng bi phẫn trong rượu cay và nước mắt: “Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ!” (Độc hành ca); Rồi nhà thơ cất tiếng hát: “Nghêu ngao cho sập bóng ngày/ Khề khà cho ráo hận đầy từng hơi/ Chiều nay nhắc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhấp máu người tanh tanh” (Độc hành ca).

Có lẽ thơ không chứa đựng hết những nội lực dữ dội trong tâm hồn nhà thơ. Phải chăng ông bước sang sân khấu khá sớm và viết văn xuôi rất sắc sảo cũng chính vì lẽ đó. Thật đúng thế, với tâm trạng bứt rứt khó chịu với hình ảnh mà nhà thơ đã thể hiện: “Ơ kìa! Thiên hạ đang say/ Ơ kìa tay nắm nghìn tay đang cười/ Nhớ người nhạt thếch rượu đời/ Tay vo chỏm tóc ta ngồi ta ca” (Độc Hành ca). Từ năm 1938, nhà thơ Trần Huyền Trân đã cùng nhóm văn sĩ thành lập Ban kịch Hà Nội. Không những say sân khấu mà nhà thơ Trần Huyền Trân có ngày đêm cặm cụi viết tiểu thuyết. Liên tục từ năm 1939 tới 1942, ông cho in tới 5 cuốn tiểu thuyết và hai tập truyện ngắn. Đặc biệt, trong đó cuốn “Sau ánh sáng” được tái bản tới ba lần. Hay cuốn “Tấm lòng người kỹ nữ” rất hấp dẫn, được đánh giá cao nghệ thuật văn chương vào năm 1940.

Với sự bi phẫn và ẩn ức trong cảnh đất nước bị giặc Pháp đô hộ, nhà thơ sớm tham gia hoạt động Hội Văn hóa cứu quốc (1943). Sau này, ông còn tham gia lập nên Đoàn kịch Tháng Tám để diễn hai vở sáng tác cùng Thâm Tâm như “Phá xiềng” và “19 tháng Tám”. Đó là những hoạt động chuẩn bị cho ngày tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhóm thơ Tam Anh cùng thực hiện được ước vọng, một thuở kết nghĩa tại ngõ Sơn Nam, Khâm Thiên ngày nào: “Đời nghèo đấy chiếu, đây chăn/ Bút khôn làm kiếm chém phăng bất bình” (Say ca). Ba người bạn thơ, sau bao lận đận gió sương đã cùng đồng hành chí hướng: “Tôi đi thực đấy! Dù gian khổ/ Đời có như người lính bị thương/ Một tối rùng mình lau máu rỏ/ Cũng không khép mắt đóng sa trường” (Lưu biệt). Cả ba cùng lên đường tham gia kháng chiến. Nguyễn Bính vào chiến trường miền nam. Thâm Tâm xung phong vào quân đội cầm súng chiến đấu. Còn nhà thơ Trần Huyền Trân cùng vợ là nghệ sĩ kịch Hạc Đính lên Việt Bắc. Nhà thơ cất lên âm sắc bi hùng nơi rừng núi: “Người lại lên chiến khu/ Trăng theo đường dằng dặc/ Bới tóc làm chinh phu/ Buông kim cầm kiếm sắc/ Vươn tay rụng đầu thù/ Áo chàm loang máu giặc” (Trông trăng Hà Nội-1947).

DUYÊN CHÈO THẤM TỪ TRONG MÁU

Sau khi cùng anh Trần Kim Bằng sao chụp khá nhiều tư liệu, chúng tôi say sưa ngắm lại những di sản của nhà thơ Trần Huyền Trân. Trần Kim Bằng cho biết cha anh đã dành cả phần đời còn lại (từ năm 1954) cho nghệ thuật sân khấu. Ông có tới 15 vở kịch thơ và chèo trong 35 năm sáng tác và dàn dựng tiết mục. Nhà thơ Trần Huyền Trân còn có công trong việc thành lập Đoàn chèo Cổ Phong (1955), tiền thân Chèo Hà Nội sau này. Thơ Trần Huyền Trân vang vọng âm hưởng dư ba tâm cảm. Nội lực thơ giàu kịch tính, chính vì vậy nhà thơ Trần Huyền Trân sớm bén duyên với nghệ thuật chèo. Đặc biệt, nhà thơ là người đầu tiên cải biên và soạn lại những vở chèo cổ. Ông tạo tiền đề phát triển nghệ thuật biểu diễn chèo qua những vở: “Quan âm Thị Kính”, “Trương Viên” và “Vân dại”. Nhiều câu hát diễn tả tâm trạng của nhân vật như Thị Kính hay Xúy Vân được phổ thơ Trần Huyền Trân luôn đậm dấu ấn hành động trong diễn xuất. Đó là những câu thơ giầu liên tưởng, hàm chứa ẩn ý tạo hưng phấn cho nghệ sĩ.

Trần Kim Bằng tâm sự, ngoài những kinh điển chèo cổ, cha anh còn dàn dựng những vở ăn khách khác như “Tú uyên giáng kiều”, “Bên sông Như Nguyệt”, “Ni cô Đàm Vân”… Hàng chục nghệ sĩ trẻ ngày đó được đào tạo qua bàn tay đạo diễn của ông. Nay họ đều là những tên tuổi trong làng chèo VN. Hầu hết những lớp nghệ sĩ này đã trở thành NSND như Quốc Chiêm, Diễm Lộc, Thúy Mùi, Thanh Trầm, Mạnh Phóng, Mai Hương…Đến lúc này, đạo diễn Trần Kim Bằng nhướn đôi mắt xếch giống cha ngẫu hứng đọc mấy câu thơ: “Thơ tôi em hỏi làm chi/ Một nguồn hương thoảng đi về ngẩn ngơ/ Thơ người là trái chín vừa/ Thơ tôi là trái không mùa, không tên” (Những cánh thơ vàng).

Sau đó, chúng tôi được xem Tuyển tập thơ Trần Huyền Trân (NXB Văn Học-2001). Trần Kim Bằng là người mất nhiều năm sưu tầm, ghi chép và khảo cứu qua báo chí cũ tại các thư viện để in thơ cho cha mình. Anh say sưa đọc lại những bài thơ đã thuộc lòng sau những lần sao chép. Thơ Trần Huyền Trân rất nhiều yếu tố ước lệ hay tượng trưng giống như phương thức diễn xuất trong nghệ thuật chèo vậy. Thế rồi Trần Kim Bằng lim dim mắt đọc: “Đêm dài trở cánh tay không/ Hỏi chăn hỏi chiếu còn phong dáng người/ Giận con sẻ rạch mái hồi/ Mộng chưa kịp chớp mách trời đã xanh” (Tiễn biệt).

GIAI THOẠI HUYỀN ẢO CÓ THỰC

Cuộc đời của thi sĩ Trần Huyền Trân không ít những giai thoại được lưu truyền trong làng thơ. Nhưng có lẽ, phải kể đến câu chuyện bút danh của nhà thơ với cái tên Trần Huyền Trân. Ai cũng rõ tên ông là Trần Đình Kim (quê gốc Hưng Yên). Bút danh Trần Huyền Trân là kết quả của câu chuyện đẫm nước mắt về số phận của một người đàn bà tên Trần Nguyệt Hiền. Thời còn làm báo Bắc Hà (1937-1938), ông Trần Đình Kim cùng Thâm Tâm và Nguyễn Bính thuê nhờ căn hộ tầng hai của ngôi nhà trên phố Giám (nay là Quốc Tử Giám). Chủ ngôi nhà là cô Trần Nguyệt Hiền. Trước đó ông Kim đã dậy con của cô Hiền nên thân quen. Sau này, cô Hiền bụng mang dạ chửa nhưng bị nhà chồng đuổi đi để lấy vợ khác. Ông Trần Đình Kim đã chăm sóc cô Hiền như người bà con thân thiết. Đến kỳ cô Hiền sinh nở, ông Kim đã đứng tên khai sinh cho bé gái. Hơn nữa, ông Kim đã ghép họ của ông và cô Hiền bằng dấu huyền đặt tên cháu bé là Trần Huyền Trân.

Bất ngờ, ông Kim lấy cái tên này làm bút danh cho mình trên báo chí. Nhà thơ Trần Huyền Trân được định hình từ đó (1938). Ông viết bài thơ “Cái thai hoang” nói lên nỗi lòng chia sẻ với số phận hẩm hiu cay đắng của đứa bé. Bài thơ dài tới 64 câu, nâng tầm khái quát cho những người con bị đẻ rơi không tên. Nhà thơ đã vận vào cuộc đời mình cũng tha hương và tội lỗi nhưng tràn ngập niềm hy vọng sống làm người. Ông rút ruột sẻ chia: “Mẹ con một kiếp vô thừa nhận/ Con cứ tìm ta con với cha”. Rồi ông bồi hồi ru trong nước mắt: “Rồi lớn lên con! Mở mắt nhìn/ Khóc cùng bách tính sống như đêm/ Nhưng không! Đừng khóc! Thân gân cốt!/ Ta bậc thang đời/ Con giẫm lên!” (Cái thai hoang). Phía ngoài sân những đốm nắng vãi trong bụi mưa. Tôi chợt dừng trước bức ghi thủ bút của nhà thơ Trần Huyền Trân. Âm thanh đầu đó bỗng ngân lên trong nỗi huyễn mơ: “Chiều nay chiều dệt mưa vàng/ Tôi buồn trông bóng nắng tàn trong mưa” (Khi đã về chiều).

                                            VƯƠNG TÂM