Trần Bạch Đằng (15/7/1926- 16/4/2007) được hậu sinh tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, với chuỗi hoạt động phong phú diễn ra tại TP.HCM như chương trình giao lưu “Trần Bạch Đằng – Một thế kỷ dấn thân”, dự án “Thư viện Thanh niên Trần Bạch Đằng”, triển lãm tư liệu “Trần Bạch Đằng – Kẻ sĩ Nam Bộ”…
Không chỉ
là một lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam trong công cuộc giành lại độc lập
dân tộc, Trần Bạch Đằng còn là một tác giả có nhiều thành tựu. Ông làm Tổng
Biên tập báo Chống Xâm Lăng thời kháng chiến chống Pháp và Tổng Biên tập báo
Nhân Dân Miền Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Ông được trao tặng giải thưởng văn
học Cửu Long năm 1951 với vở kịch “Trần Hưng Đạo bình Nguyên”, giải thưởng văn
học Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 với tập ký “Con người miền Nam”, giải thưởng Nhà
nước về văn học nghệ thuật năm 2001.
Sinh ra ở
Bến Bạ (Giồng Riềng, An Giang) nhưng 5 tuổi thì cậu bé Trương Gia Triều đã theo
cha mẹ lên sống ở Bửu Long (Biên Hòa, Đồng Nai). Trong cuốn sách “Cuộc đời và
ký ức”, ông viết: “Ba mẹ tôi sinh tất thảy bảy người con, song hầu hết anh chị
tôi mất sớm, còn lại người chị thứ ba và tôi là út. Vì lý do chính trị - cha
tôi thuộc xu hướng dân tộc chủ nghĩa, từng ở tù vì xu hướng ấy, mặc dù, theo
tôi hiểu sau này, ông rất ôn hòa - chính quyền thực dân cho phép gia đình chúng
tôi định cư mỗi tỉnh không quá năm năm, vì lý do sinh sống, chúng tôi trôi dạt
khắp Nam bộ…
Mẹ tôi in ngói mướn. In ngói tức là nhồi đất sét, ôm cục
đất khá nặng đập vào cái khuôn gỗ đã rải một lớp tro, dùng chân đạp tém các mí
đất, dùng cần cung dây thép cắt đất, trút viên ngói ra sân. Mẹ tôi bắt đầu in
khi mặt trời lặn và độ 9, 10 giờ đêm thì xong phần khoán, lối 200 viên. Bà lại
tranh thủ nấu một nồi xôi để sáng hôm sau gánh đi bán. Từ đó, người trong làng
gọi mẹ tôi là bà Ba Xôi và tôi là con bà Ba Xôi. Ba tôi làm một nghề “trí thức”
hơn: viết liễn. Ông có hoa tay và viết đại tự rất đẹp”.
Sự nghiệp văn chương song hành sự nghiệp cách mạng của
Trương Gia Triều. Năm 1943, Trương Gia Triều chính thức đứng vào hàng ngũ đảng
viên cộng sản, và viết bài thơ “Trên bờ Đồng Nai” với bút danh Trần Bạch Đằng: “Một
dòng nước xanh, mây trời in bóng/ Từ nguồn khơi theo sóng tràn về/ Thăm thẳm mấy
sào mà nghe tiếng vỗ/ Nỗi niềm riêng gửi gió bay xa/ Chở những cánh buồm bềnh bồng
nhiều ngả/ Có thấy đôi bờ cây lá xôn xao/ Giáp mặt biển Đông hỏi xin ít bão/ Dựng
dậy sáng ngời ngọn giáo Chương Dương”.
Bút danh Trần Bạch Đằng được dùng phổ biến suốt giai đoạn
khởi nghiệp của ông. Từ năm 1959, ông làm thơ với bút danh Hưởng Triều. Nguyên
cớ nào có bút danh Hưởng Triều? Vì ông ghép tên thật của người vợ Tôn Thị Hưởng
(Nguyễn Thị Chơn 1928-2000, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp) và tên thật Trương
Gia Triều của mình.
Trên cơ sở bút danh Hưởng Triều khi làm thơ, ông có thêm
bút danh Nguyễn Hiểu Trường khi viết văn xuôi (Hưởng Triều nói lái thành Hiểu
Trường). Ngoài ra, khi viết chính luận thì ông dùng bút danh Trần Quang và Tư
Ánh. Còn tác phẩm phổ cập cộng đồng nhất của ông là kịch bản phim “Ván bài lật
ngửa” được ký tên cháu ngoại Nguyễn Trương Thiên Lý.
Lấy nguyên mẫu nhân vật đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo
(1922-1965), “Ván bài lật ngửa” được xuất hiện dưới dạng tiểu thuyết đăng nhiều
kỳ trên báo Tuổi Trẻ năm 1980. Cứ mỗi kỳ báo phát hành, ông lại gửi phần tiếp
theo. Thế nhưng, chỉ in được mười kỳ thì Trần Bạch Đằng phải bị bệnh phải nhập
viện dài ngày. Không muốn lỡ hẹn với độc giả, ông đề nghị báo Tuổi Trẻ cho nhân
viên ôm máy đánh chữ vào bệnh viện. Và ông nằm trên giường bệnh chậm rãi đọc để
nhân viên đánh máy từng kỳ, cho đến hết “Ván bài lật ngửa”.
Từ năm 1982 đến 1987, đạo diễn Lê Hoàng Hoa dàn dựng “Ván
bài lật ngửa” thành bộ phim 8 tập, với vai chính Nguyễn Thành Luân do Nguyễn
Chánh Tín thể hiện. Điều thú vị là cách viết “Ván bài lật ngửa” cũng được Trần
Bạch Đằng áp dụng sau tuổi 70. Ông cứ nằm đong đưa trên võng và đọc cho thư ký
hoàn thành 2,3 bài viết mỗi ngày.
81 năm trên dương gian của nhân sĩ Trần Bạch Đằng có nhiều
cống hiến vượt trội. Tuy nhiên, ông vẫn day dứt chưa thể báo hiếu cho người mẹ cơ
cực và tảo tần. Tháng 3/1945, Trần Bạch Đằng gặp người mẹ lần cuối cùng, rồi miệt
mài đi theo kháng chiến. Đầu năm 1968, nghe tin người mẹ qua đời, ông cũng
không thể nào trở lại nhà chịu tang mẫu thân. Trong cuốn sách “Cuộc đời và ký ức”,
ông chưa nguôi ám ảnh hình ảnh người mẹ mặc áo ngắn tay giữa trời nắng cặm cụi in
ngói và bán xôi để nuôi con: “Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, tôi về quê
cùng con gái tôi... Hai cha con tôi nhổ cỏ ngôi mộ đơn sơ nằm giữa cánh đồng
bát ngát. Tôi đã không trọn được cái hứa thầm: may cho mẹ chiếc áo dài tay”.
TUY HÒA

