Phim ảnh hầu như quay lưng lại với những vấn nạn xã hội như tội phạm ngày càng gia tăng, khoảng cách giữa giàu nghèo ngày càng giãn rộng, nhân cách, phẩm giá con người ngày càng tụt dốc. Liệu chỉ riêng tính giải trí, sự hấp dẫn người xem với những gì “kỳ”, những gì “lạ” trên màn ảnh có mang lại sự bình tâm, tĩnh trí, mãn nguyện cho những người làm phim hôm nay hay không?
Hướng
đến LHP Châu Á- Thái Bình Dương 2026
ĐIỆN
ẢNH VIỆT TỪNG CÓ MỘT KỶ NGUYÊN VÀNG
TÔ
HOÀNG
Từ
một nền điện ảnh thuần túy là công cụ tuyên truyền, giáo dục của Đảng và Nhà nước,
bước qua cơ chế thị trường, chúng ta đã tự nguyện chấp nhận những thuộc tính
hàng hóa của sản phẩm phim ảnh; đã coi trọng hơn tính chất giải trí trong việc
kể một câu chuyện từ màn ảnh.
LHP
Bông Sen lần thứ 10 ở Hải Phòng, đầu năm 1990 đã tặng Bông Sen Vàng cho phim “Vị
đắng Tình yêu” của cố đạo diễn Nguyễn Xuân Hoàng. Đây là 1 phim thể hiện rõ yêu
cầu hút khách tới rạp. Câu chuyện tình yêu tay ba có phần cũ, tầm tư tưởng và
thẩm mỹ cũng không có gì nổi trội. Bù lại, diễn viên là những gương mặt đang
“hot” vào thời ấy là Lê Công Tuấn Anh, Diễm Hương; cảnh quay chau chuốt, cốt
chuyện mang chất melodrama..
Từ
đó trở về sau, các LHP Bông Sen, Cánh Diều đều giành cho phim thương mại, phim
giải trị những sự biểu dương, khích lệ xứng đáng: Tại LHP Tuy Hòa, “Hotboy nổi
loạn” được sánh vai cùng “Mùi cỏ cháy”; LHP Hạ Long “Bí mật thảm đỏ” đồng giải
với “Những người viết huyền thoại”…
Toàn
bộ nền kinh tế của đất nước đã chuyển qua vận hành theo những quy luật mới-tất
yếu và tự nhiên. Việc làm phim không thể là con thuyền chèo lái ngược dòng.
Ấy
vậy, nhưng vẫn cần nhớ lại mảng phim truyện của thập niên những năm 1990..
Có
thể nói, công việc làm ra những bộ phim truyện đã tích tụ được kinh nghiệm từ
những năm chiến tranh, đặc biệt sau tháng Tư năm 1975, kinh nghiệm ấy càng dồi
dào, phong phú hơn khi các nhà điện ảnh của chúng ta có điều kiện tiếp xúc với
điện ảnh của các nước Mỹ, Anh,Pháp, Nhật, Hồng Công, Đài Loan... Vào thời điểm
này, công việc làm phim được bổ xung thêm sức thanh xuân, khát vọng sục sôi và
trình độ tay nghề của cả một lớp những đạo diễn, quay phim đào tạo cơ bản, dài
ngày ở trong nước hay ở nước ngoài.
Nhưng
yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất đưa tới những chuyển đổi mới mẻ trong cảm
xúc, trong cung cách tìm tòi ngôn ngữ biểu đạt, trong việc thể hiện hiện thực
chính là ngọn gió đổi mới, dám nhìn thẳng vào sự thật được bắt đầu từ Đại hội Đảng
Cộng sản VN lần thứ VI năm 1986.
Xin
được nói ngay: Chính điều này đã tạo nên những cởi mở, dân chủ, thông thoáng ở
cách nhìn nhận, đánh giá trong khâu duyệt kịch bản, duyệt phim; cả ở những khâu
khác thuộc thẩm quyền của các cấp cao hơn.
Về
những phim trực tiếp đề cập tới chủ nghĩa anh hùng trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, thử hỏi đến bao giờ chúng ta mới lại có được những bộ phim nghiêm túc, kỹ
càng, được đầu tư đích đáng như “Ngã Ba Đồng Lộc” của đạo diễn Lưu Trọng Ninh,
“Mùi cỏ cháy” của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười, “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật
Minh?
Có
lẽ cũng là lần đầu tiên, phim về đề tài chiến tranh được thể hiện cả cái BI lẫn
cái TRÁNG; cả chiến công lẫn những mất mát, tổn thất. Con người trong các bộ
phim ấy không còn là những ma-nơ-canh xơ cứng, chỉ biết xông lên và hô hào, mà
đã bắt đầu có cuộc sống riêng, mang chất “người” rõ rệt.Có thể kể ra đây những
bộ phim như “ Đời cát” của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân,“ Bến không chồng“,“ Người
đàn bà trên chuyến tầu tốc hành”của đạo diễn Lưu Trọng Ninh, “Sống trong sợ
hãi’ của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên.
Làn
gió dân chủ, cởi mở, sự thông thoáng càng thấy rõ thành quả trong mảng phim phản
ánh hiện thực đời thường. Khoảng một, hai chục năm trước, nhân vật chính trên
màn ảnh khó có thể là anh lái xe ngang tàng, ương ngạnh mà ẩn sâu bên trong một
tấm lòng nhân ái như trong phim “Canh bạc” của đạo diễn Lưu Trọng Ninh, hoặc là
những gã lâm tặc và những cô gái “nửa đời nửa đoạn” như trong phim “Rừng đen” của
đạo diễn Vương Đức?
Nhiều
bộ phim truyện ở thời điểm này đã nhìn thẳng vào những vấn đề xã hội gay gắt,
nóng bỏng; phanh phui, mổ sẻ để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Bộ phim “Thương
nhớ đồng quê” của đạo diễn Đặng Nhật Minh là một bức tranh toàn cảnh về hiện
tình nông thôi thời đầu mở cửa. Phim gióng lên một cách sớm sủa hồi chuông cảnh
tỉnh nếu chúng ta bỏ rơi nông thôn và người nông dân chúng ta sẽ nhận lấy hậu
quả. Ngày hôm nay khi lúa gạo, quả trái là mặt hàng xuất khẩu có thị phần lớn
nhất, chiếm tỷ lệ GDP nhiều nhất, chúng ta càng thấy giá trị dự báo của bộ
phim.
Và
theo ý riêng của tôi, đây cũng là tác phẩm hoàn bị nhất của vị đạo diễn đầu đàn
này. Bộ phim “Rừng đen” của đạo diễn Vương Đức không chỉ là hồi chuông cấp báo
về tệ nạn chặt phá rừng, phim còn đi xa, khái quát hơn với lời cảnh tỉnh xin đừng
coi thường những quy luật của thiên nhiên- một vấn đề tìm được tiếng nói chung với điện ảnh
thế giới. Bộ phim “Lưới trời” của đạo diễn Phi Tiến Sơn là một đòn đánh trực chỉ
vào tệ nạn tham nhũng. Bộ phim “Quyên” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình là sự
cảm thông thống thiết tâm can đối với thân phận những người Việt Nam buộc phải
lưu lạc kiếm sống nơi đất khách quê người.
Lại
xin ghi công sự đóng góp của các đồng nghiệp Việt Kiều trong giai đoạn này với
những bộ phim đạt tới những chuẩn mực thẩm mĩ cao như “Thời xa vắng” của đạo diễn
Hồ Quang Minh, “Mùa hè chiều thẳng đứng” của đạo diễn Trần Anh Hùng, “Mùa len
trâu’ của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh”, “Dòng máu anh hùng” của đạo diễn
Charlier Nguyễn..
Trong
giai đoạn này cũng đã khẳng định tài năng, sức sáng tạo, những tìm tòi, độ chín
của một loạt các nhà quay phim như Nguyễn Hữu Tuấn, Vũ Quốc Tuấn, Nguyễn Đức Việt,
Lý Thái Dũng…của các anh chị, các em diễn viên, các nhà thiết kế điện ảnh, các
nhà soạn nhạc
Còn
điều này nữa cần phải nêu ra ở đây: Trong buổi hoàng kim này, nhiều đạo diễn
qua những bộ phim của mình đã và đang bộc lộ một phong cách riêng: Vương Đức với
phong cách phim tài liệu trong phim truyện. Sự dịu dàng, êm ái, đầy nữ tính đã
định hình trong các bộ phim “Thung Lũng hoang vắng”, “Tâm hồn mẹ”, “Lạc lối’ của
nữ đạo diễn Phạm Nhuệ Giang. Với “Ngọn đèn trong mơ”, “Hoa của trời’, “Ký ức Điện
Biên” đặc biệt là “Vua bãi rác” đạo diễn Đỗ Minh Tuấn đang muốn tìm tới phương
pháp khái quát, trìu tượng hóa khi thể hiện hiện thực quanh ta…
Như
vậy, phim truyện của những năm 1990 vẫn nối tiếp được những điểm mạnh trong
truyền thống của Nền Điện ảnh Dân tộc Cách mạng (bám sát hiện thực, coi trọng
tính nội dung, tính thẩm mỹ, coi trọng đối tượng phục vụ.. ) mà xưa kia vốn đã
làm hiện rõ diện mạo riêng của nền điện ảnh Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á
và trên thế giới, nếu chiếu cạnh phim của Thái lan, Philipin, Singapor,
Indonesia..
Xin
được mạnh dạn gọi thời kỳ phát triển này là Kỷ Nguyên Vàng.
Vậy
nhìn lại Kỷ Nguyên Vàng ấy, chúng ta rút tỉa ra được điều gì bổ ích đây?
2
điều cơ bản
1/
Nhắc lại những thành tựu này, chúng ta đều biết phần lớn những bộ phim “đình
đám” được kể ở trên đều được làm bằng đồng vốn do nhà nước chu cấp. Ấy vậy
nhưng chúng ta tuyệt nhiên không mong muốn Điện ảnh lại trở về bấu víu vào bầu
sữa mẹ bao cấp ấy!
Nói
tới toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường,
chúng ta luôn nhấn mạnh tới yêu cầu ĐỊNH HƯỚNG XHCN. Điện ảnh là một trong những
mũi nhọn trên mặt trận văn hóa. Vì thế yêu cầu định hướng này càng quan trọng,
bức thiết hơn. Nhưng chúng ta không thể đặt lên đôi vai những người làm phim tư
nhân phải thực hiện yêu cầu ấy được. Chính ở đây, càng thấy rõ yêu cầu Nhà nước
NÊN và CẦN đầu tư cho việc làm phim những khoản vốn thích đáng hơn nữa. Để có
những bộ phim tư tưởng thẩm mỹ cao, sức khái quát lớn, xứng đáng là đại diện
cho nền điện ảnh dân tộc mà tham dự các LHP quốc tế. Cũng là để có một dòng
phim chủ lưu, giữ chuẩn mực cho những thể nghiệm, những sáng tạo nghệ thuật
khác.
Vào
google ta thấy một số liệu cũ: Ở thời điểm năm 2022, một vị quan chức của Bộ
Xây dựng cho biết, chi phí trung bình để làm 1 km đường cao tốc 4 làn xe thôi
là 186 tỷ đồng. Xin các vị lãnh đạo của Cục Điện ảnh nước ta đang ngồi ở dưới
cho biết Nhà nước rót cho việc làm phim vào năm 2024 này là bao nhiêu?
2/
Nhìn vào “mặt hàng phim ảnh” vài ba năm gần đây chúng ta thấy hiển hiện tín hiệu
vui mừng vì nhiều nhà làm phim trẻ không chịu buông xuôi hai tay, thả nổi những
bộ phim của mình “bèo dạt mây trôi” chỉ thuần theo yêu cầu lỗ lãi và những trăm
tỷ doanh số. Các đạo diễn trẻ Bùi Thạc Chuyên, Nguyễn Hoàng Điệp, Phan Đăng Di,
Phan Gia Nhật Linh,Trịnh Đình Lê Minh, Vũ Ngọc Đãng, Trấn Thành và nhiều tên tuổi
khác vẫn giữ nguyên trăn trở, nhiệt huyết làm sao để đạt tới những yêu cầu nghệ
thuật, thẩm mĩ trong những bộ phim họ làm ra. Phim “Em và Trịnh” của đạo diễn
Phan Gia Nhật Linh… và đặc biệt là- tôi xin nhấn mạnh, bộ phim “Đất Phương Nam”
của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng tiêu biểu cho khuynh hướng vươn tới sự hài hòa
giữa yêu cầu đạt doanh thu cao và đạt yêu cầu thẩm mỹ cũng phải cao.
Nhưng
kỹ càng, nghiêm túc hơn, quả là phim ảnh của chúng ta đã và đang đánh mất đi
CÔNG NĂNG XÃ HỘI vốn là truyền thống, là thế mạnh của nền Điện ảnh Dân tộc,
Cách Mạng.
Phim
ảnh hầu như quay lưng lại với những vấn nạn xã hội như tội phạm ngày càng gia
tăng, khoảng cách giữa giàu nghèo ngày càng giãn rộng, nhân cách, phẩm giá con
người ngày càng tụt dốc. Liệu chỉ riêng tính giải trí, sự hấp dẫn người xem với
những gì “kỳ”, những gì “lạ” trên màn ảnh có mang lại sự bình tâm, tĩnh trí,
mãn nguyện cho những người làm phim hôm nay hay không?
Liệu
người xem ở đất nước này có thích thú, say mê mãi với thứ phim ảnh không liên
quan gì tới âu lo, vật vả đời thường của hàng triệu triệu người lao động; không
động chạm gì tới tương lai, vận mệnh của quê hương, xứ sở?
Liệu
người xem còn bám màn ảnh bao lâu nữa với những câu chuyện kinh dị, ma quái non
nớt, hời hợt, bắt chước thói chuộng lạ, bệnh hoạn của một số khuynh hướng điện ảnh
trên thế giới?
Vẫn biết tìm tòi, thể nghiệm, khai phá là cả một quá trình không chỉ ngày một, ngày hai được. Nhưng tính tới hôm nay, việc làm phim vận hành theo quy luật kinh tế thị trường cũng đã có tuổi đời là hơn hai chục năm rồi. Điều này khiến chúng ta có quyền mong mỏi và sốt ruột.

.jpg)