Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, một tác giả nổi tiếng từng được trao tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Văn học ASEAN, vừa đột ngột qua đời ở tuổi 78, vào ngày 7/4 tại Hà Nội.
Nhà thơ
Nguyễn Đức Mậu sinh ngày 14/1/1948 tại Nam Điền, Nam Trực (nay thuộc tỉnh Ninh
Bình). Ông nhập ngũ năm 1966, ở tuổi 18 nhiều bâng khuâng như ông viết “Tháng
ba dáng mẹ cùng cây gạo/ Đứng ở đầu làng tiễn đưa tôi/ Lưng còng trong dáng cây
cao khỏe/ Tóc bạc bên hoa gạo đỏ trời”.Ông đã cùng sư đoàn 312 băng qua các chiến
trường khốc liệt Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Khe Sanh, Tây Nguyên để đi đến
mùa xuân đại thắng 1975.
Trong lòng
công chúng phổ thông, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu được biết đến với tư cách đồng tác
giả ca khúc “Màu hoa đỏ” cùng nhạc sĩ Thuận Yến: “Có người lính mùa thu ấy ra
đi từ mái tranh nghèo/ Có người lính mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về”. Ca khúc
“Màu hoa đỏ” là kết quả hợp tác giữa nhà thơ Nguyễn Đức Mậu và nhạc sĩ Thuận Yến
vào năm 1991, một người viết lời một người viết nhạc. Cho nên, nhà thơ Nguyễn Đức
Mậu chưa bao giờ xem “Màu hoa đỏ” là bài thơ độc lập, và ông không đưa “Màu hoa
đỏ” vào tuyển thơ của mình.
Ở góc độ
văn chương, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu định danh từ giải nhất cuộc thi thơ báo Văn
Nghệ năm 1972-1973, cùng nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm và nhà thơ
Lâm Thị Mỹ Dạ. Cũng năm 1973, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ra mắt tập thơ đầu tay “Cây
xanh đất lửa”.
Sự nghiệp
thi ca của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu gửi gắm trong các tập thơ “Áo trận”, “Mưa
trong rừng cháy”, “Hoa đỏ nguồn sông”, “Từ Hạ vào Thu”, “Bão và sau bão”,
“Cánh rừng nhiều đom đom đóm bay”, “Cháy trong mưa”… và ba tác phẩm dài hơi là
“Trường ca Sư đoàn”, “Trường ca Côn Đảo”, trường ca “Mở bàn tay gặp núi”.
Là một người
lính cầm bút, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu luôn ám ảnh bởi những ký ức đạn bom “Những
đêm gió thổi buốt trời/ Vết thương cũ còn đau nhức/ Ôi sư đoàn xưa ở đâu/ Người
cũ ai còn ai mất?”. Thơ ông không cầu kỳ kỹ thuật và cũng không đột phá hình ảnh.
Sự chân thành và giản dị làm nên chất riêng cho thơ Nguyễn Đức Mậu. Ông dành
không ít cảm xúc hướng về làng xưa thơ ấu, để hồi hộp “Nghe trong non dại tiếng
gà/ Một vùng quê kiểng nơi xa hiện về” và để khắc khoải “Con đò lá tre chìm
trong lũ lụt/ Nẻo đường quê nước ngập cỏ rong đầy/ Những gì đi qua câu hát còn
giữ được/ Tôi uống cùng men rượu ngả nghiêng say”.
Năm 2001, nhà
thơ Nguyễn Đức Mậu được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật và
Giải thưởng văn học ASEAN với tập thơ “Cánh rừng nhiều đom đóm bay”. Ông nghỉ
hưu với quân hàm đại tá. Nhìn trên bình diện chung, cuộc đời nhà thơ Nguyễn Đức
Mậu có sự thành đạt mà nhiều người mơ ước. Thế nhưng, ông chưa bao giờ nguôi
ngoai khao khát sáng tạo: “Thôi cứ đi, con đường thơ dài lắm/ Tới đỉnh đèo, trước
mặt lại rừng sâu/ Khi kết thúc tập thơ mới nhất/ Lại bắt đầu vỡ đất tập thơ sau”.
Càng nhiều
tuổi, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu càng ưu tư về thơ. Ông ngộ ra thơ không thể hời hợt
và không được sáo rỗng: “Khi mọi buồn vui trong lòng vơi cạn/ Khi con tằm thiếu
lá dâu xanh/ Tôi lo sợ những hạt xoàn giả tạo/ Những câu thơ tự trang điểm cho
mình”. Và ông càng nhận diện sâu sắc vai trò người cầm bút để cảnh tỉnh một
cách nghiêm khắc: “Lấy hoang tưởng làm phao câu/ Anh cạn bấc vẫn nghĩ mình đang
cháy/ Khi câu chữ nhạt nhòa trang giấy lạnh tàn tro”.
Vài năm gần
đây, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có thói quen đi xe buýt dạo phố mỗi ngày. Ông từng
cảm nhận chuyến xe buýt đồng hành run rủi số phận: “Một người ngồi trên xe nhìn
mưa bay giá buốt/ Từng trạm đỗ, xe dừng…/ Bến cuối cùng không có khách/ Quay về
nơi xuất phát/ Xe buýt chiều cuối năm/ Vẫn một người ngồi”.
Sáng 7/4, nhà
thơ Nguyễn Đức Mậu đột ngột ngất lịm trên xe buýt vẫn thường ruổi rong, rồi lặng
lẽ rời khỏi dương gian. Ông không đi nữa, ông về với “cánh rừng nhiều đom bóm
bay” mà ông từng gắn bó: “Chiến tranh lùi xa, con đường mòn Trường Sơn bao giờ
tôi trở lại/ Đâu cái giếng nước hòa máu người tôi uống trong cơn khát, gốc cây
rào rào bầy mối đục mòn đêm/ Đâu ngôi mộ vô danh đắp bằng nỗi đau, nước mắt/
Nơi cánh rừng nhiều đom đóm bay”.
TUY HÒA

