Danh nhân Lê Quý Đôn trong di sản đồ sộ dành cho hậu thế, có một tác phẩm không thể không nhắc đến, đó là bộ sách “Đại Việt thông sử” hoàn thành vào năm 1749.
Danh nhân Lê Quý Đôn (1726-1784) đã được Unesco thông qua Nghị quyết vinh danh và tổ chức kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông. Nhân dịp này, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành bộ sách “Đại Việt thông sử”, một tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp Lê Quý Đôn, Đôn, do tiến sĩ Vũ Thị Thanh sưu tầm và giới thiệu.
“Đại Việt
thông sử” là bộ sách sử lớn, ra đời vào năm 1749, được danh nhân Lê Quý Đôn
biên soạn ở tuổi 23, có giá trị như bộ thông sử hoàn chỉnh đầu tiên của Việt
Nam theo quan niệm sử học thời Lê - Trịnh. Với tầm nhìn một học giả uyên thâm, danh
nhân Lê Quý Đôn đã hệ thống hóa lịch sử dân tộc từ buổi đầu vua Lê dựng nước đến
cuối thời Lê sơ, qua sự tra cứu và đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu phong phú,
với tư duy tổng hợp hiếm có.
Tác phẩm “Đại
Việt thông sử” phác họa một cách toàn diện các nhân vật trọng yếu, sự kiện lịch
sử và dấu ấn văn hóa của thời đại. Không chỉ ghi chép, tác phẩm còn thể hiện
năng lực phê bình sử liệu sắc sảo của danh nhân Lê Quý Đôn, Đặc biệt, bộ sách
cho thấy tấm lòng tha thiết với văn hiến dân tộc và đạo đức của một người viết
sử.
Bộ sách “Đại
Việt thông sử” đã đặt nền tảng cho lối viết sử có tính học thuật cao của Việt
Nam thời trung đại. Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, nhà bác học Phan
Huy Chú (1782-1840) nhận định: “Sách này của Lê công, kỹ lưỡng đầy đủ, đáng làm
toàn sử cho một đời”.
Việc đọc
và nghiên cứu “Đại Việt thông sử” giúp bạn đọc ngày nay hiểu thêm về một chặng
đường lịch sử dân tộc, về tư duy sử học và biên khảo, cũng như tầm vóc trí tuệ
của danh nhân Lê Quý Đôn. Ẩn bản “Đại Việt thông sử” dựa theo bản dịch và ghi
chú của nhà nghiên cứu Ngô Thế Long, với phụ lục bao gồm ảnh ấn toàn bộ văn bản
Hán văn của “Đại Việt thông sử” cùng các ý kiến đánh giá về tác giả và tác phẩm.
Lời tựa “Đại
Việt thông sử”, danh nhân Lê Quý Đôn nhiều lần bày tỏ sự nuối tiếc khi việc
chép sử ở nước ta thời đó còn nhiều thiếu sót, khiến cho “người muốn tìm xét đời
xưa, muốn bàn việc nước, còn biết khảo cứu vào đâu?” Ông chỉ rõ nền sử học Việt
Nam vốn thường viết theo lối biên niên vẫn còn hạn chế, và mong muốn khắc phục
bằng cách áp dụng hình thức kỷ truyện.
Bằng việc
đi đầu trong áp dụng thể tài “kỷ truyện”, danh nhân Lê Quý Đôn đã góp phần quan
trọng vào việc hoàn thiện phương pháp biên soạn sử của nước ta. Dù học hỏi từ
“Sử ký” của Tư Mã Thiên, nhưng ông vận dụng một cách linh hoạt, không rập
khuôn.
Có thể khẳng
định Lê Quý Đôn đề cao việc chép sử đầy đủ “mỗi sự kiện đều không bỏ sót, để
cho người ta sau khi mở sách ra xem, rõ được manh mối, biết được đầu đuôi”. Ông
cho rằng việc “nước Đại Việt ta trị bình hơn trăm năm, xây dựng sửa sang rõ rệt”
không nên để xảy ra tình trạng “sử sách biên chép lại vắng vẻ như thế”. Ông muốn
“Những đức hạnh tốt, lời nói hay, mưu bí mật, kế lớn lao” của “vua thánh tôi hiền
cùng nhau gây dựng cơ đồ giữ gìn nếp cũ” không thể để cho bị “lu mờ không tỏ
rõ, bị che lấp không nổi lên”. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của “ghi lại việc cũ
cho đời sau” để “văn hiến có đủ chứng cớ có thể kê cứu việc cũ, có thể để lại
gương sau”.
Tư tưởng
trọng sử và tinh thần làm sử nghiêm túc được thể hiện rõ hơn trong phần “Tôn chỉ
và ý nghĩa trọng yếu của việc soạn sử”. Danh nhân Lê Quý Đôn dẫn lời mười một bậc
đại danh nho bàn về vai trò của người soạn sử, đề ra yêu cầu đối với tri thức,
năng lực, phẩm chất và đạo đức của người soạn sử. Theo đó, người soạn sử phải
có tri thức sâu rộng, phải hiểu rõ đạo lý, phải ghi chép đúng và đầy đủ sự thật,
phân rõ thiện ác, chú trọng khuyên người thiện, răn kẻ ác.
Theo đúng
các tôn chỉ trên, khi biên soạn “Đại Việt thông sử”, danh nhân Lê Quý Đôn rất
tôn trọng sự thật khách quan, công tâm trong đánh giá và phẩm bình. Mang hệ ý
thức Nho giáo chính thống, coi nhà Mạc là “ngụy triều”, nhưng ông đã viết trung
thực về các sự kiện lịch sử trong thời Mạc, giúp người đời sau nhận biết tường
tận vai trò lịch sử của nhà Mạc trong lịch sử nước ta.
Với tinh
thần nghiêm cẩn, muốn giúp người đời sau có nhìn nhận khách quan, tỏ rõ đầu
đuôi sự việc, danh nhân Lê Quý Đôn đã dày công tham khảo rất nhiều tư liệu khác
nhau bên ngoài chính sử. Ông cho biết mình đã “tìm cả các sách tạp, các bản
sót, các liệt truyện, các dã sử, văn khắc vào bia vào đỉnh, gia phả của các thế
gia, cùng là bản sao chép của các học giả Bắc triều.” Các tư liệu ông sử dụng rất
phong phú nhưng đều được tổng hợp, xử lý một cách khoa học nhằm phục dựng sự thật
lịch sử. Ông coi trọng giá trị của tư liệu điền dã và văn học dân gian, tâm huyết
với việc khảo sát thực địa. Bên cạnh đó, với hiểu biết sâu rộng về Hán văn, ông
cũng sử dụng các nguồn thư tịch từ Trung Quốc để đối chiếu, bổ khuyết cho “Đại
Việt thông sử”.
Cách viết
theo thể “kỷ truyện” của danh nhân Lê Quý Đôn đã đặt con người vào trung tâm,
phác họa nên những bức chân dung nhân vật lịch sử rất toàn diện, có nguồn gốc
xuất xứ, mặt mạnh mặt yếu; hai khía cạnh vai trò lịch sử lẫn cuộc sống đời thường
đều được ông lưu tâm. Cách phân chia ra từng điều, từng loại khi viết liệt truyện
và chí thể hiện tư duy hệ thống và khoa học, bao quát nhiều mặt khác nhau của đời
sống xã hội.
NNMT

