Nhà
thơ Hồ Minh Tâm cho rằng: Thơ ca, do đặc trưng cô đọng và giàu khoảng trống, buộc
người đọc phải tham gia tích cực vào quá trình liên tưởng ý nghĩa, tức là đồng
sáng tạo. Chính quá trình ấy mở rộng không gian đồng cảm. Mặt trái của thời đại
công nghệ số là “công cụ hoá con người”. Thơ ca bằng năng lực mềm kháng cự lại
sự công cụ hoá đó.
TIẾNG RU - KHỞI NGUYÊN CỦA THI CA
(Tham
luận tại tọa đàm “Phẩm giá của thơ ca” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, nhân dịp
Ngày Thơ Việt Nam 2026 diễn ra tại Quảng Ninh)
HỒ MINH TÂM
Nếu
lịch sử văn học được bắt đầu bằng sử thi Gilgamesh, thì lịch sử nhân loại bắt đầu
bằng sinh thể mong manh từ lòng mẹ. Khát vọng của sử thi Gilgamesh là hướng đến
sự trường tồn, vượt qua cái chết. Nhưng, chỉ có văn chương, thi ca mới có thể
trường tồn. Còn sự sống của thân xác con người dù cứu chuộc bằng cách gì cũng
chỉ hữu hạn. Khát vọng của người mẹ là được nhìn thấy sự lớn lên, lớn lên một
cách tử tế của những đứa con mình. Trước khi có thi sĩ, đã có người mẹ. Trước
khi có anh hùng, đã có đứa trẻ. Trước khi có tiếng kèn thắng trận, đã có những
lời ru.
Tôi
không nhớ ngày bé mẹ tôi đã ru tôi bằng những khúc ru nào, tiếng ru ấy đã thấm
nhập vào tôi ra sao, linh hồn những lời ru ấy có là một phần trong những bài
thơ tôi có đến bây giờ… Chỉ nhớ chừng vài năm trước, khi vô tình được nghe mẹ
tôi ru cháu “ăn trầu đỏ mắt đỏ mui [môi]/ đỏ hai con má mà chùi không ra” thì
rõ ràng câu hát này đã là một bài lục bát chỉnh thể gợi ra bao nhiêu hình ảnh e
lệ liên quan đến chuyện trầu cau. Dân gian ta có tục mời trầu - “miếng trầu là
đầu câu chuyện” và trong nghi thức thành vợ thành chồng thì lệ “bỏ trầu - dạm
ngõ” là một nghi lễ khởi đầu cần thiết, cần có. Vì ngượng ngùng xấu hổ hay vì
niềm vui, hạnh phúc đến bất ngờ mà hai con má trong lời ru ấy ửng hồng, đỏ lên
từ bên trong… thế nên… “chùi không ra”.
Trong
tham luận này, tôi muốn đặt giả thuyết: Tiếng ru là hình thức tiền-thi-ca của
nhân loại, và từ hồn vía của lời ru, ta có thể đọc ra phẩm giá của thi ca đối với
sự hình thành, phát triển tâm tính loài người.
Từ
thế kỷ XIX, các nhà nhân học đã nhất quán chỉ ra rằng không có cộng đồng nguyên
thủy nào thiếu vắng hình thức ngôn ngữ nhịp điệu. Ở bất cứ lục địa nào từ châu
Phi, châu Á, châu Âu, châu Mỹ tiền Colombo… đều tồn tại các dạng thức thơ ca
truyền miệng. Ấy là hò trong lao động sản xuất giúp quên đi mệt nhọc. Tụng nghi
lễ để nới rộng biên giới linh thiêng. Hát ru để đưa trẻ thơ vào giấc ngủ và để
giãi bày, nhắn nhủ bao tâm tình thầm kín. Hát giao duyên để thổ lộ tình yêu… Điều
này cho thấy nhịp điệu, ngữ điệu không phải là sản phẩm xa xỉ có ở thời văn hóa
hiện đại. Mà nó như là một nghệ thuật tự phát nhằm lưu tồn ngôn ngữ thời tiền-chữ
viết. Khi trong xã hội loài người chưa có hệ thống lưu trữ, nhịp điệu giúp dễ
ghi nhớ.
Trong môi trường đầy nguy hiểm, nhịp điệu giúp
ổn định tâm lý tập thể. Trong không gian mênh mông và đêm tối, âm thanh lặp lại
tạo ra cảm giác được kiểm soát. Vì thế, theo tôi, tiếng ru, ở góc nhìn nhân học,
là hành vi thiết lập trường an toàn cho những sinh linh bé bỏng. Người mẹ, bằng
giọng hát, tạo ra một vùng âm thanh ổn định giữa thế giới bất định. An toàn giữa
thế giới bất an. Như vậy, tiếng ru có thể xem là một hình thức đầu tiên của văn
hóa đưa nôi, từ đó thi ca lớn dần thành văn hóa nuôi dưỡng ký ức. Trẻ sơ sinh đặc
biệt nhạy cảm với nhịp lặp, âm tiết du dương, giai điệu có tính chu kỳ. Và, hát
ru của dân tộc nào, đất nước nào, thời kỳ nào, cũng đều mang những đặc điểm ấy.
Người mẹ vô thức điều chỉnh nhịp hát theo nhịp tim và hơi thở của mình. Đứa trẻ
bằng bản năng dần đồng bộ hóa nhịp sinh học của mình với nhịp ấy.
Ở
đây ta thấy một điều quan trọng: Thi ca khởi đầu có một chức năng [hay có thể
hiểu nó là phẩm giá] đồng bộ hóa giữa hai cơ thể, từ đó mà đồng điệu, đồng cảm
giữa nhiều người. Chính vì chức năng này mà làm thơ, đúng nghĩa thơ luôn khó, đọc
vỡ chữ thơ cũng chẳng dễ chút nào. Cái tôi của đứa trẻ chưa hình thành, nhưng
nhịp ru tạo ra trải nghiệm về “tính liên tục”. Tính liên tục ấy là nền tảng của
sự phát triển bản ngã. Đứa trẻ được trải nghiệm thế nào sẽ hình thành bản ngã
thế ấy, nếu không có trải nghiệm ổn định ban đầu, cấu trúc tâm lý sẽ rạn vỡ.
Nói cách khác, trước khi thi ca trở thành biểu tượng văn hóa, nó đã là cấu trúc
tạo hình cho ý thức cá nhân. Vì thế, phẩm giá của thi ca không chỉ nằm ở thẩm mỹ
khơi gợi cái hay, cái đẹp, nó còn nằm ở chỗ góp phần vào quá trình hình thành
con người sống có nội tâm, có lòng trắc ẩn.
Cũng
theo các nhà nhân học, nhiều nghi lễ cộng đồng có nguồn gốc từ cấu trúc tương
tác Mẹ – Con. Khi cộng đồng mở rộng, mô thức ấy được nhân bản. Một người dẫn nhịp
cả cộng đồng hưởng ứng, đáp lại. Nhịp điệu nhịp nhàng dễ tạo sự đồng thuận. Tiếng
ru cá nhân dần biến thành khúc tụng tập thể, từ đó hình thành sử thi, thần thoại,
huyền thoại... Loài vật có thể phát ra âm thanh, tiếng hót, tiếng kêu, nhưng chỉ
con người mới có khả năng tổ chức âm thanh thành nhịp điệu có ý nghĩa biểu tượng.
Khi âm thanh trở thành nhịp, và nhịp trở thành ký ức, con người bước vào vùng
văn hóa. Ở đó, họ không chỉ phản ứng với thế giới, mà còn diễn giải thế giới.
Thi ca, xét từ góc độ tiến hóa văn hóa, là bước chuyển từ sinh tồn thuần túy
sang sinh tồn có ý nghĩa. Vì thế, theo tôi, phẩm giá thi ca nằm ở ba phương diện:
Bảo
vệ tính cá nhân – mỗi tiếng nói đều có nhịp riêng.
Duy
trì ký ức cộng đồng – thơ là bộ nhớ trước chữ viết.
Tạo
khả năng đồng cảm xuyên thế hệ – ta có thể rung động trước những câu thơ cách
ta hàng nghìn năm.
Và,
nếu không có thi ca, lịch sử chỉ còn là dữ kiện. Thi ca làm cho lịch sử có linh
hồn.
Nhân
loại hôm nay sống trong một nền văn minh dữ liệu. Nhịp sống tăng tốc, âm thanh
cơ khí, điện tử lấn át âm thanh tự nhiên. Chúng ta có thể giả tiếng suối chảy,
tiếng chim hót, tiếng lá rơi… nhưng không thể thay thế thiên nhiên. Cũng như một
đứa trẻ có thể nghe hát ru qua các thiết bị điện tử hiện đại, nhưng các thiết bị
điện tử ấy không tạo ra nhịp điệu riêng, hơi ấm riêng… bởi đứa trẻ nào cũng cần
được lắc lư trong vòng tay của mẹ.
Điều
này nói lên một nghịch lý: Công nghệ thay đổi từng ngày và có thể đạt mức ta mơ
ước, nhưng cấu trúc tâm lý cơ bản của con người không thay đổi ở bất kỳ thời đại
nào. Nếu tiếng ru là nền tảng của cấu trúc an toàn nội tâm, thì thi ca ở cấp độ
xã hội là nền tảng của cấu trúc đạo đức mềm. Một xã hội không có thi ca sẽ dễ
rơi vào cực đoan, vì nó thiếu không gian để cảm xúc được chuyển hóa. Thi ca
không trực tiếp giải quyết xung đột chính trị, nhưng nó thức tỉnh con người
không quên rằng phía bên kia cũng biết đau.
Tôi
từng bực bội, khi ở những ngã ba đèn đỏ đèn xanh, họ tranh giành từng centimet
đường, văn hoá nhường đường hầu như không có. Tôi thấy sự vội vã, sự thúc giục,
dồn dập, giống như trong đầu họ đang bị một thể loại âm thanh nào đó như nhạc
ráp cuốn đi. Nhiều khi tôi bật cười một mình, nghĩ… giá như họ đang ngân nga một
khúc ru, một bài lục bát của Nguyễn Bính hoặc giả như họ đang nhâm nhi “nhanh
lên chứ vội vàng lên với chứ”... thì hẳn họ sẽ không cần vội, không phải vội
như thế bởi khi có thơ ca họ cần có sự lắng lại, khi hồn người có thi ca không
dễ bị cái xôn xao ngoài mình tuồn tuột lôi đi.
Chưa
bao giờ nhân loại sống nhanh, sống gấp như hôm nay. Khoa học công nghệ nâng
năng lực thể hiện của con người đến mức gần như vô hạn, nhưng đồng thời cũng đặt
con người trước những khủng hoảng đạo đức, sinh thái và tinh thần chưa từng có.
Trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, nền kinh tế thuật toán tạo ra một thế giới dày đặc
thông tin cần xử lý, mỗi người như một mắt xích theo dây chuyền sống bị cuốn
đi, cuốn theo. Vì thế họ không còn cơ hội dừng lại để nghĩ ngợi, chiều sâu nội
tâm theo đó có nguy cơ bị bào mòn vì lãng quên.
Nếu
ở thời cổ đại, thi ca xuất hiện như một cách trấn an nỗi sợ trước thiên nhiên,
thì ở thời kỳ mới, thơ ca cần được nhìn như một năng lực hướng thiện: giúp con
người điều chỉnh cảm xúc, mở rộng đồng cảm và tái lập phẩm giá cá nhân giữa áp
lực vô hình của hệ thống. Thơ ca ngoài biểu lộ cảm xúc cá nhân cũng cần có thêm
chức năng chia sẻ, điều hòa cảm xúc xã hội. Tâm lý học hiện đại chỉ ra rằng con
người không hành động thuần túy bằng lý trí. Phần lớn hành vi được dẫn dắt bởi
cảm xúc và các phản ứng vô thức. Một xã hội nếu thiếu cơ chế điều hòa cảm xúc sẽ
dễ rơi vào cực đoan, bạo lực hoặc thờ ơ. Thơ ca, bằng nhịp điệu và hình ảnh,
làm chậm nhịp phản ứng bản năng. Khi đọc một câu thơ, người ta buộc phải dừng lại,
phải “ở trong” ngôn ngữ ấy một khoảnh khắc. Chính sự dừng lại ấy tạo nên khoảng
cách giữa kích ứng và hành động, khoảng lắng lại ấy là nơi đạo đức có cơ hội
hình thành.
Khác
với diễn ngôn chính trị hay pháp luật vốn vận hành bằng mệnh lệnh, thơ ca vận
hành bằng gợi mở. Nó không áp đặt chuẩn mực mà khơi dậy khả năng tự nhận biết.
Một cá nhân có khả năng tự nhận thức sẽ ít bị lôi kéo bởi đám đông hơn. Vì thế,
thơ ca góp phần vào việc xây dựng một xã hội có năng lực tự điều chỉnh mềm - điều
mà các thiết chế cứng khó thay thế. Thơ ca gợi mở sự đồng cảm. Đồng cảm giữa
người viết và người đọc giúp gia tăng khả năng “đặt mình vào vị trí người
khác”.
Thơ
ca, do đặc trưng cô đọng và giàu khoảng trống, buộc người đọc phải tham gia
tích cực vào quá trình liên tưởng ý nghĩa, tức là đồng sáng tạo. Chính quá
trình ấy mở rộng không gian đồng cảm. Mặt trái của thời đại công nghệ số là
“công cụ hoá con người”. Thơ ca bằng năng lực mềm kháng cự lại sự công cụ hoá
đó. Thơ ca không cạnh tranh với khoa học nhưng nó bổ sung cho khoa học bằng chiều
kích đạo đức và cảm xúc. Vai trò hướng thiện của thơ ca thể hiện ở ba phương diện:
Điều hòa cảm xúc cá nhân, nới rộng đồng cảm xã hội, bảo vệ phẩm giá con người
trước sự công cụ hóa.
Mỗi
dân tộc tồn tại không chỉ bằng lãnh thổ hay thiết chế chính trị, mà trước hết bằng
ký ức. Ký ức ấy không phải lúc nào cũng được ghi trong sử sách, nó được lưu giữ
trong lời ăn tiếng nói, trong tập tục, trong những câu hát truyền miệng qua nhiều
thế hệ. Thi ca, vì thế, chính là một “đĩa mềm” của văn hoá. Trước khi có hệ thống
chữ viết hoàn chỉnh, người Việt đã truyền khẩu qua ca dao, tục ngữ, hò vè. Những
câu hát ru, những khúc giao duyên không chỉ để giải trí, mà còn nhắc nhở, căn dặn
con cháu đời sau về quan niệm gia đình, ứng xử cộng đồng, đạo lý nhân nghĩa,
tinh thần lao động, tình yêu quê hương… “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ
như nước trong nguồn chảy ra…” không đơn thuần là hình ảnh so sánh, đó là sự
thiết lập hệ giá trị về hiếu đạo.
Núi
và nước ở đây không chỉ mang tính đối ngẫu thi ca, mà còn gắn với không gian
văn hoá nông nghiệp lúa nước, gợi nhắc về dòng giống con Lạc cháu Hồng. Một câu
ca dao có thể sống hàng trăm năm mà không cần sách giáo khoa. Một câu thơ hay
có thể thành câu cửa miệng nhắc người ta
sống thơ hơn. Thi ca tựa mạch ngầm, nuôi dưỡng, chuyên chở văn hoá, nhờ thế văn
hoá truyền thống không đóng khung trong bảo tàng tĩnh lặng mà là dòng chảy xung
động vào đời sống, tăng sức đề kháng với mọi biến cố. Bởi khi một dân tộc còn đọc
thơ, đọc ca dao, tục ngữ của mình, còn trích dẫn lời của cha ông trong đời sống
thường ngày, thì truyền thống tốt đẹp ấy sẽ không bao giờ mất.
Chủ
đề thơ Nguyên tiêu năm nay “Trước biển lớn” hàm súc nhiều nghĩa, nghĩa nào cũng
hay…, nó hay như cuộc đời này vậy.
Trong
bối cảnh biển đảo và chủ quyền quốc gia luôn là vấn đề nhạy cảm và thiêng
liêng, thơ ca đã nhiều lần trở thành tiếng gọi, xốc dậy tinh thần cộng đồng. Từ
truyền thống yêu nước trong thơ trung đại đến những sáng tác đương đại về biển,
hình tượng biển không thuần tuý là thiên nhiên mà còn là biểu tượng của không
gian sống và không gian văn hoá. Thơ ca khi chạm đến những hình tượng ấy không
chỉ khơi dậy lòng yêu nước, mà còn nuôi dưỡng tinh thần tự tin, yếu tố cần thiết
để dân tộc vững vàng bơi vào dòng chảy toàn cầu mà không bị ngợp, không bị dập
vùi. Thi ca là nơi bảo tồn và phát triển tiếng Việt, làm giàu tiếng Việt.
Ngày
nay, với sự xuất hiện của “trí tuệ nhân tạo” chưa bao giờ việc “sáng tác” lại dễ
dàng đến thế. Nhiều bài hát, bài thơ, tranh… chỉ cần gợi ý là nghệ sĩ AI sẵn
sàng đáp ứng ngay và luôn trong vài nốt nhạc. Tuy nhiên, với người sáng tác có
lòng tự trọng, với người thưởng ngoạn tác phẩm nghệ thuật đủ độ tinh… thì các
tác phẩm không phải từ cảm xúc chân thật của con người dễ bị trôi qua tuồn tuột.
Trong
một thời đại nơi ranh giới giữa tham khảo, ảnh hưởng, vay mượn, sao chép trở
nên mong manh, người viết phải đối diện
với câu hỏi: Ta viết bằng nội lực, bằng hiểu biết, rung cảm, bằng tâm khảm của
mình, hay chỉ tái tổ hợp những gì đã có? Mỗi người viết tự biết cách ứng xử phù
hợp với phẩm giá và lòng tự trọng nghề nghiệp của mình. Chúng ta biết rằng,
không có sáng tạo nào hoàn toàn từ hư vô. Nghệ thuật có tính thừa kế, bắt chước,
thi ca khó tránh khỏi, khó tránh hết những va vấp với tiếng nói của thiên
nhiên, của người đi trước… Chợt nhớ một phát biểu về quan niệm “thừa kế” trong
sáng tác được cho là của Picasso: “Những nghệ sĩ giỏi thì sao chép, những nghệ
sĩ vĩ đại thì ăn cắp”. Vấn đề là, mỗi nghệ sĩ sẽ hiểu câu nói trên theo một
cách khác nhau, từ đó sử dụng của “trời cho” cũng theo cách khác nhau. Thời đại
của chúng ta, nơi ý tưởng có thể sao chép trong vài giây, nơi AI có thể tái tạo
phong cách trong tích tắc, thì đạo đức sáng tạo càng trở thành yếu tố cốt lõi.
Liêm chính không phải là khẩu hiệu, mà phải là: Trung thực với nguồn cảm hứng,
minh bạch với tư liệu và biết tôn trọng đồng nghiệp. Giữ được liêm chính, họ
không chỉ bảo vệ danh dự cá nhân, mà còn góp phần gìn giữ phẩm giá của thi ca,
nâng cao sự trinh bạch của tác phẩm.
Và
có lẽ, đến tận cùng của mọi nguyên tắc đạo đức sáng tạo, chỉ còn câu hỏi giản dị,
đặt ngay dòng dưới cùng của tác phẩm vừa hoàn thành: Ta có thể ký tên mình dưới
tác phẩm này với sự bình an hay không? Đạo đức sáng tạo trong thơ ca hôm nay vì
thế không chỉ là tuân thủ luật bản quyền, mà còn là giữ gìn sự trung thực nội
tâm, gìn giữ nhân cách. Nhà thơ có thể học hỏi, chịu ảnh hưởng, thậm chí “trưng
dụng” những chất liệu chung của nhân loại. Nhưng họ phải biến những chất liệu ấy
thành trải nghiệm cá nhân, thành suy tư và cảm xúc thực sự của mình. Khi tác phẩm
ra đời từ sự chuyển hóa ấy, nó không làm nghèo đi kho tàng văn học, mà góp thêm
một tiếng nói mới.
Giá trị của thơ không chỉ nằm ở vẻ
đẹp ngôn từ, mà còn ở sự xác thực của tâm hồn, định dạng “căn cước” thơ ca. Một
bài thơ được tạo nên từ sự sao chép có thể gây ấn tượng nhất thời, nhưng không
thể định hình nên dấu ấn lâu dài. Chỉ khi người viết biết xấu hổ, trung thực với
mình, dám ký tên với sự bình thản và tự trọng thì sáng tạo mới thực sự có ý
nghĩa. Và có lẽ, đó mới là tinh thần sâu xa trong câu nói tưởng như nghịch lý của
Picasso: nghệ thuật vĩ đại không lặp lại thế giới, mà biến thế giới thành tiếng
nói riêng nhất của chính mình.
Lời
ru nào cũng xuất phát từ tấm lòng yêu thương thành thật, tận tâm. Khát vọng của
lời ru là tạo ra một thế giới bình yên, phẩm giá của lời ru là tạo nên cốt lõi
cho một nhân cách tử tế. Thiết nghĩ, đấy cũng là phẩm giá của thơ ca.
Hà Nội,
2/2026

