Phẩm giá của thơ ca cũng là sự hòa quyện/ gặp gỡ giữa cảm xúc chân thành, nghệ thuật biểu hiện cao đẹp, làm cho tâm hồn hồn con người trở nên phong phú, cao thượng. Lúc ấy, thơ ca là thứ ánh sáng nhiệm màu, soi rọi vào những góc khuất của tâm hồn con người và có khả năng chạm đến những giá trị vĩnh hằng vượt thời gian.


TẢN MẠN VỀ PHẨM GIÁ CỦA THƠ CA

ĐẶNG HUY GIANG

Theo tôi, một bài thơ được coi là có phẩm giá khi: Không xu nịnh đám đông; không cố làm duyên để được khen; không dùng kỹ xảo để che giấu sự rỗng; không vay mượn cảm xúc mà mình chưa thực sống, chưa thực sự trải nghiệm. Thơ có phẩm giá là thơ dám đứng một mình và không phản bội tiếng nói bên trong, trung thực với sự thật nội tâm cũng như sự thật tồn tại. Một khi thơ không còn phải chứng minh cho bất cứ điều gì, nó bắt đầu có phẩm giá. Khi ấy, thơ chuyển hỗn loạn thành hình hài, chuyển câm lặng thành tiếng nói, chuyển cô đơn thành sự được chia sẻ.

Phẩm giá của thơ ca cũng là sự hòa quyện/ gặp gỡ giữa cảm xúc chân thành, nghệ thuật biểu hiện cao đẹp, làm cho tâm hồn hồn con người trở nên phong phú, cao thượng. Lúc ấy, thơ ca là thứ ánh sáng nhiệm màu, soi rọi vào những góc khuất của tâm hồn con người và có khả năng chạm đến những giá trị vĩnh hằng vượt thời gian.

Trong thơ, phẩm giá đối với người viết là: Giảm bớt vọng tưởng, giảm bớt cái tôi phô trương, giảm bớt nhu cầu được tán thưởng...Bởi vì thơ không chỉ là sản phẩm của năng khiếu, mà còn là sản phẩm của mức độ tỉnh thức. Thơ phải trả lời được những câu hỏi: Có tự do nội tâm hay không? Có tỉnh thức trước vô thường hay không? Có thành thật với nỗi đau hay không? Mặt khác, thơ phải thuyết phục bằng độc giả từ sự cộng hưởng. Nếu người đọc phải “bị dạy”, thì họ sẽ kháng cự. Nếu họ tự nhận ra, đó là sự thức tỉnh. Thơ không cần chiều chuộng nhưng cũng không nên coi thường người đọc.

Lâu nay, câu “Lập thân tối hạ thị văn chương” thường được hiểu theo tinh thần Nho giáo thực dụng: Trong thứ bậc lập thân, văn chương chỉ là “ngọn”, không phải “gốc”; làm quan, hành đạo, kinh bang tế thế mới là chính. Vì thế mới sinh ra cách hiểu: Lập thân bằng văn chương là thấp. Nhưng nếu dừng ở đó thì quả là hời hợt.

Vì sao người xưa dè dặt với văn chương? Bởi vì trong hệ giá trị Nho học vốn quan niệm: Văn chương nếu chỉ là tài hoa, thì chỉ để khoe chữ, chỉ để cầu danh. Nếu chỉ có thế thì đúng là “tối hạ” thật! Tối hạ ở đây có thể là lời cảnh tỉnh: Đừng lấy văn chương làm cứu cánh nếu nó không gắn với đạo. Một bài thơ có thể nâng con người lên, nhưng cũng có thể làm lệch cảm thức thẩm mỹ, lệch cả nhân sinh quan ... Cho nên không phải vô cớ mà có người làm thơ cho rằng: Thơ có thể là thần dược và có thể là độc dược.

Xin lấy bài thơ “Sự vi diệu của thơ"của Tùng Bách làm minh chứng.

Thơ là gì?

Thật ra không quan trọng

Chỉ biết, sau một năm tung hoành trên các thi đàn

Kẻ vô danh tiểu tốt như HQ danh tiếng bỗng vang lừng

Giới lý luận phê bình, mắt chữ O, mồm chữ A

Không ngớt ngợi ca "Thơ hiện đại - kịch trần bờ nhan sắc.

 

Thơ là gì?

Thật ra không quan trọng

Chỉ biết, ông chú tôi - một người quyền cao chức trọng

Sau chín tháng nghĩ hưu nổi đóa làm thơ

Xuất bản một lúc 2 tập thơ - tập nào cũng dày

Minh họa màu mè, giấy tốt, bìa cứng

Nhiều người được ông tặng thơ tỏ ra thất vọng

Trong mắt họ, ông là kẻ thích đua đòi

Nhưng vào lạc sân chơi.

 

Thơ là gì?

Không quan trọng bạn ơi

Chỉ biết

Thơ có thể biến tiểu tốt vô danh thành danh tiếng

Và người từng danh tiếng thành hâm hấp dở hơi".

Bài “Sự vi diệu của thơ” là những lời châm biếm tỉnh táo và khá chua cay, nhưng cái chua  cay ở đây không phải để hả hê, mà để lật mặt một hoang tưởng quen thuộc quanh thơ ca và danh tiếng.

Bài thơ dựng lên  hai chân dung và một  nghịch lý. Kẻ vô danh tiểu tốt bỗng vang lừng nhờ “thi đàn”, được giới phê bình tung hô bằng những mỹ từ sáo rỗng và khoa trương. Người quyền cao chức trọng khi bước vào thơ thì lại trở nên lạc lõng, bị nhìn như kẻ “lạc sân chơi”, kẻ “đua đòi”,  thậm chí “hâm hấp dở hơi”.

Hai hình ảnh ấy dựng nên một nghịch lý: Thơ không ban phát giá trị nội tại, mà chỉ khuếch đại hoặc làm sụp đổ những giá trị có sẵn, tùy vị thế và ngữ cảnh.

Bài thơ có giọng điệu tỉnh bơ mà sắc nhọn. Chính sự tỉnh bơ ấy làm cho đòn châm biếm sâu hơn. Câu kết:“Thơ có thể biến tiểu tốt vô danh thành danh tiếng/ Và người từng danh tiếng thành hâm hấp dở hơi” là một định nghĩa nghịch, vừa buồn cười vừa đáng sợ: Thơ trở thành một máy biến áp danh phận, không bảo chứng cho tài năng hay chiều sâu tinh thần.

Tóm lại, đây là một bài thơ tỉnh thức, không nhằm hạ bệ thơ, mà đòi lại sự khiêm nhường cho thơ và sự tự trọng cho người làm thơ. Một bài cười mà không nhẹ, vì phía sau tiếng cười là một nỗi buồn rất thật.

Nếu đã lập thân bằng văn chương tức là lấy chữ làm nghiệp thì đó không phải là con đường thấp mà là con đường rất nhậy cảm về đạo đức. Lập thân bằng văn chương không phải là mưu sinh bằng chữ mà là đặt đời mình vào chữ. Một khi đã đặt đời mình vào chữ thì không thể coi là chuyện nhẹ. Nếu chữ không ngay thì đời cũng lệch.

Nhân cách ngòi bút là điều quyết định: Anh viết về điều gì? Anh im lặng vì điều gì? Anh có dám chịu trách nhiêm với chữ của mình không? Không có nhân cách, văn chương dễ trở thành kỹ xảo. Chữ là phương tiện nhưng cũng là nơi thử thách sự trung thực. Người viết cần có kỷ luật  để không trượt theo cảm xúc nhất thời, cần có niềm tin để không hoài nghi đến mức tự hủy, cần có nỗi sợ đánh mất chính mình như một tiếng chuông cảnh tỉnh. Ba yếu tố ấy tương ứng với ba tầng: Kỷ luật, niềm tin và nỗi sợ; trong đó, kỷ luật thuộc về ý chí, niềm tin thuộc về tâm linh nội tại, nỗi sợ thuộc về bản năng tự bảo tồn phẩm giá.

Phẩm giá của thơ ca, suy cho đến cùng là sự hành xử, thái độ và trách nhiệm  của người viết với thời cuộc, người viết với chính mình, người viết với đứa con tinh thần của mình, người viết với bạn đọc. Trong đó, người viết không xu thời, không a dua, không hám lợi, không nịnh hót, không ru ngủ...là những đòi hỏi và thách thức không nhỏ.

Nhân cách đòi hỏi người cầm bút phải hành xử nghiêm cẩn, đúng mực với bạn bè và những tác phẩm của họ. Nên nhớ: Thừa nhận tài năng cũng là tài năng. Vậy mà đáng tiếc lâu nay vẫn có những người viết không đọc tác phẩm của nhau và không hiểu nhau viết gì. Đáng tiếc có những người đọc tác phẩm của người khác theo cách hậm hực, tức tối, soi mói, phủ nhận, trịch thượng...

Tôi biết có một nhà thơ rất ngỗ ngược tên H.  khi tuyên bố xanh rờn: “Đọc một tác phẩm, tôi bảo hay là hay, tôi bảo dở là dở”, “Thơ sau 1975, chỉ có A.H”, “Thơ C.D có ma”...Nhiều năm nay, hầu như năm nào ông H. cũng chê những tập thơ đoạt giải của Hội Nhà văn, đến nỗi có người nói: Có lẽ chỉ trao giải thưởng cho  H. thì  ông này mới im tiếng chăng? Cũng có nhà thơ quanh năm chỉ làm cái nghề “chọc ngoáy”, dường như không “chọc ngoáy” thì ông không chịu được. Ai ông cũng chê  lấy được, vô căn cứ và viết theo lối “lung tung quyền’. Tất nhiên, đối với loại người này làm mãi, làm hoài rồi cũng bị người đời quên lãng. Bởi vì xét cho cùng thì ý kiến của loại người này cũng không có giá trị gì. Đó là những người mà có một nhà thơ đã viết rất hay: “Chết khi còn đang thở”. Đó là những chỉ dấu lâm nguy của văn chương nói chung và thơ ca nói riêng./.