Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong cuộc đời vỏn vẹn 48 năm trên dương gian, đã có hơn 5200 ngày đảm nhận vai trò đại biểu Quốc hội khóa 1.
Nhà văn
Nguyễn Huy Tưởng (6/5/1912 – 25/7/1960) được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
năm 1996. Nhắc đến nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, công chúng đều hình dung một tác
giả thành công ở các thể loại bút ký, tiểu thuyết và kịch.
Trước Cách
mạng Tháng Tám, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng làm việc trong ngành hải quan ở Hải
Phòng và hướng lòng yêu nước vào những trang viết đề tài lịch sử. Bên cạnh hai
tiểu thuyết lịch sử “Đêm hội Long Trì” và “An Tư công chúa”, nhà văn Nguyễn Huy
Tưởng còn có hai vở kịch lịch sử “Vũ Như Tô” và “Cột đồng Mã Viện”.
Ngoài sự
nghiệp cầm bút, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng còn là một nhân vật tích cực trong các
hoạt động xã hội. Không những góp phần sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam và Nhà xuất
bản Kim Đồng, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng tham gia Quốc hội khóa 1 từ tháng
1/1946 đến tháng 5/1960.
Sau khi nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa được khai sinh ngày 2/9/1945, cuộc bầu cử Quốc hội
khóa đầu tiên dự kiến diễn ra ngày 23/12/1945. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng ngày
3/12/1945 đã viết đơn gửi Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Bắc Ninh để đăng ký ứng
cử đại biểu Quốc hội.
Nguyên văn
lá thư như sau: “Thưa Ông Chủ tịch. Tôi tên là Nguyễn Huy Tưởng, 32 tuổi, viết
báo, quê làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Yêu cầu ông vui lòng ghi tên
tôi vào danh sách những người ra ứng cử vào Quốc dân đại hội, kỳ Tổng tuyển cử
23 tháng Chạp 1945”.
Về lý do ứng
cử đại biểu Quốc hội, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trình bày với cử tri Bắc Ninh mong
muốn “ấn định một bản hiến pháp lấy quyền lợi dân làm trọng” và “giúp Chính phủ
mọi phương sách đuổi giặc Pháp để giữ vững nền độc lập và quyền lợi nhân dân”. Riêng
đối với đồng bào Bắc Ninh, ông hứa thực hiện ba điều, thứ nhất là tìm cách giúp
đỡ các khu vực vừa bị thiên tai, thứ hai là khuyến khích phát triển các nghề tiểu
công nghệ, thứ ba là nâng cao đời sống của dân quê.
Chấp nhận
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng ứng cử đại biểu Quốc hội khóa 1, cơ quan phụ trách bầu
cử giới thiệu “Tiểu sử ông Nguyễn Huy Tưởng” với các thông tin: “Năm 1943, ông
vào hàng ngũ hội Văn hóa Cứu quốc tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam và cho
sự đắc thắng của văn hóa mới. Sau ngày khởi nghĩa, ông được bầu vào Ủy ban chấp
hành hội Văn hóa Cứu quốc. Hiện ông giữ chức Bí thư ban Trung ương hội ấy, và
là một biên tập viên của báo Tiên Phong, cơ quan vận động văn hóa mới”.
Để có thời
gian chuẩn bị chu đáo hơn, cuộc bầu cử Quốc hội khóa 1 hoãn tới ngày 6/1/1946. Trong
thời gian này, các tài liệu tuyên truyền bầu cử Quốc hội đã ghi lại ý kiến của
các ứng viên. Phần của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, ông phát biểu: “Về kinh tế, vì
ra ứng cử làm đại biểu Bắc Ninh, tôi chú trọng về nông nghiệp hơn cả. Không thể
thực hiện được sự phân chia thổ địa, nhưng cần phải điều hòa dân cày và địa chủ,
làm lợi cho cả hai bên và nâng cao mực sống của cả hai bên”.
Còn tờ áp
phích cổ động cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng được gửi đến cử tri Bắc Ninh với
kích thước 50 cm x 70 cm, kèm dòng chữ “Người chiến sĩ cách mạng chân chính của
nền Độc lập Việt Nam và của dân chúng”.
Ngày
31/1/1946, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhận được công văn từ ủy ban hành chính tỉnh
Bắc Ninh: “Xin báo cáo để Ngài được biết, theo kết quả tạm thời cuộc bầu cử Quốc
Dân Đại Hội do Ban Kiểm soát tuyên bố vào ngày 19/1/1946, thì Ngài đã trúng cử”.
Trở thành
một trong tám đại biểu của tỉnh Bắc Ninh tham gia Quốc hội khóa 1, nhà văn Nguyễn
Huy Tưởng bắt đầu gắn bó chặt chẽ văn chương với cách mạng. Vở kịch “Bắc Sơn” của
ông được công diễn tháng 4/1946, như một dấu son của nền kịch nghệ cách mạng
còn non trẻ.
Trong sự
nghiệp nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có bộ ba tác phẩm viết về tinh thần quả cảm của
người dân Hà Nội qua 60 ngày đêm quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh (từ 19/12/1946
đến 17/2/1947) gồm vở kịch “Những người ở lại”, tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ
đô” và truyện phim “Lũy hoa”.
NNMT

