Nhà thơ Đinh Nho Tuấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và hai lần được Tặng thưởng của Hội Nhà văn TP.HCM. Bước vào năm 2026, nhà thơ Đinh Nho Tuấn tuổi Bính Ngọ đánh dấu 60 mùa xuân đời mình, bằng tập thơ “Khói, bụi và cỏ” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.
Nhà thơ
Đinh Nho Tuấn sinh năm 1966 tại Tân Hà Mỹ, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Có người cha là
nhà báo Đinh Nho Liêm (1934-2011) từng làm Tổng Biên tập báo Hà Tĩnh, nên nhà
thơ Đinh Nho Tuấn từ nhỏ đã không xa lạ với thế giới chữ nghĩa. Tuy nhiên, khi sang
Nga du học, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lại lấy học vị tiến sĩ luật kinh tế ở Học viện
Hàn lâm khoa học Moscow trong tâm trạng “Có thằng bé ôm ghì chân mẹ/ Khóc váng
lên không cho mẹ xa nhà/ Nửa cuộc đời, tôi là thằng bé ấy/ Và quê hương là người
mẹ đã xa”.
Những ngày
ở xứ sở bạch dương, nhà thơ Đinh Nho Tuấn lập gia đình với cô bạn một thời đèn
sách tại trường Phan Bội Châu, Nghệ An. Hai đứa con trai đầu được chào đời ở
Nga, hai vợ chồng Đinh Nho Tuấn trở về TP.HCM định cư và có thêm đứa con trai
út Đinh Nho Khoa hiện nay theo con đường sáng tác âm nhạc. Bạn bè văn chương
TP.HCM vẫn quý mến nhà thơ Đinh Nho Tuấn với tư cách một trí thức nho nhã, lịch
thiệp và luôn thao thức “Đọc cứ đọc, hàng ngày tôi vẫn đọc/ Những vần thơ đẹp đẽ
người đời/ Viết cứ viết, hàng ngày tôi vẫn viết/ Mỗi bài thơ là máu đỏ của tôi”.
Hơn hai thập
niên gắn bó đô thị phương Nam, nhà thơ Đinh Nho Tuấn không chỉ có một sự nghiệp
riêng mà còn có những vần điệu riêng. Tham gia cuộc thi thơ “Nhân nghĩa đất
phương Nam” năm 2024, do Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã
đoạt giải nhất với chùm thơ “Khuôn mặt Sài Gòn”, “Thành phố của tôi” và “Lòng
ta ở trọ”. Sự nhộn nhịp của một thành phố năng động và cởi mở, được nhà thơ
Đinh Nho Tuấn phác thảo những nét chấm phá ấn tượng: “Lòng ta ở trọ/ Vào muôn
khóm nắng vàng/ Trọ vào tiếng rao/ Vòng xe lăn ướt mềm hẻm phố/ Ly cà phê nép
mình ngõ nhỏ/ Thướt tha áo trắng tinh khôi/ Trọ con đường ban mai/ Người xe trẩy
hội/ Gió đồng bào hơi thở áo cơm/ Trọ khuôn mặt Sài Gòn/ Mộc, không phấn son/
Trang điểm bằng những điều tử tế”.
Không thể giấu kín mãi những bài thơ cựa quậy trong ngăn kéo, nhà thơ Đinh Nho Tuấn chính thức xuất hiện trên văn đàn từ năm 2018. Trữ lượng tích lũy đầy đặn, giúp bút lực sung mãn của ông mỗi năm đều có tập thơ ra mắt công chúng. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, dễ dàng thấy được ông có cái duyên của một người nói giọng trầm. Ông cứ thủ thỉ những câu thơ tỉ tê chuyện mình ngậm ngùi, chuyện người xa vắng. Trước mặt anh là trang giấy trắng réo gọi chữ nghĩa tuôn trào, mà xung quanh anh bạt ngàn kỷ niệm giăng mắc. Anh xoay phía nào cũng gặp những hồi ức chênh vênh. Từng hình ảnh đã xa mà chưa khuất, đã xưa mà chưa cũ, lần lượt hiện ra trong thơ Đinh Nho Tuấn: “Nhiều khi ta thấy ta là một/ Ta là trăm mảnh, lại nhiều khi/ Mảnh này theo ta cùng đứng lại/ Bao mảnh phiêu bồng em dắt đi”.
Đặc biệt,
nhờ trải nghiệm nhiều năm tha phương, trong thơ Đinh Nho Tuấn, mỗi ngọn cỏ bên
đường cũng bật xanh như ánh đèn canh khuya hư ảo. Đinh Nho Tuấn đã chịu đựng
nhiều cách biệt và đã trải nghiệm đủ bôn ba, khiến anh dễ dàng đồng cảm với tha
nhân. Đọc thơ Đinh Nho Tuấn, có thể nhận ra giữa những dòng hờ hững luôn được
gieo những câu mong ngóng. Anh đi tìm cái đẹp đang chìm dưới xô bồ ranh mãnh
danh lợi bằng tất cả sự tin yêu Lắm phen anh reo lên cùng cái đẹp vô tư vẫn vượt
lên mọi dửng dưng để tồn tại. Không cố tình diêm dúa, không có tình đẩy đưa,
Đinh Nho Tuấn phát hiện hồn vía sự vật thật tự nhiên và thật tinh tế: “Ký ức là
gió ào ào trên sa mạc/ Là suối sông lầm lạc lối về/ Đêm đêm bầu trời sao chợt
nhắc/ Đàn chim xưa dang cánh bay đi”.
Sau một hành trình thanh xuân gắn bó thi ca, nhà thơ Đinh Nho Tuấn bước vào tuổi “lục thập” với những vần điệu không chịu “nhi nhĩ thuận”. Thơ ông cồn cào hơn xưa. Thơ ông day dứt hơn xưa. Nguyên cớ gì nhỉ? Vì ông thấy bản thân phải có thêm trách nhiệm với thơ, và thơ phải có thêm trách nhiệm với đời. Đó là sự củng cố ý thức của kẻ sáng tạo chuyên nghiệp, khi đã thực sự thấu hiểu “Tờ lịch bay đi, không thể nào giữ lại/ Trắng xoá tường kia, trắng xoá tay người”.
Qua sáu tập
thơ đã xuất bản “Em hãy cho anh vội”, “Em tôi”, “Dan díu với núi sông”, “Ngàn
tiếng đời ấp ủ”, “Lời phả hương”và “Năm ngón chưa đặt tên”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn
không còn xa lạ với công chúng văn chương. Dĩ nhiên, với một tác giả đã định
danh như nhà thơ Đinh Nho Tuấn, thì độc giả có quyền đòi hỏi những rung lắc
khác trên mỗi trang thơ. Thật mừng, bằng tập thơ thứ bảy có tên gọi “Khói bụi
và cỏ”, nhà thơ Đinh Nho Tuấn đã chứng minh ông không an phận trú ẩn ở miền chữ
nghĩa du dương và trầm bổng. Ông mạnh mẽ khẳng định “Nếu chỉ được viết một bài
thơ/ Bài thơ về tự do, chắc chắn thế”, rồi tự nguyện gánh vác bất trắc “Giọt mực
thi nhân nhỏ xuống/ Như máu trên những cành hoa”.
Thi ca
chưa bao giờ ban phát cơ hội chinh phục cho những ai rụt rè và dễ dãi. Khi đã
đi hết cánh đồng mênh mang cảm xúc nuông chiều nắng sớm sương khuya, nhà thơ cần
chấp nhận vượt dốc từng niềm ưu tư, từng nỗi hoài vọng bằng những truy vấn liên
hồi về nhân gian ấm lạnh. Đinh Nho Tuấn không hề ái ngại luật chơi khắc nghiệt ấy,
ông rành mạch “Đừng bảo hạt mưa phải rơi thế nào/ Đừng bảo cơn gió phải về đâu/
Vì còn những cơn gió chưa hề thổi/ Nấp kín trong lòng không tuổi” vàông nhận diện
“Cơn mưa đi rất chậm/ Như những tiếng thở dài” để ông lý giải “Cơn mưa không
treo lên tường để ngắm/ Cơn mưa làm lời thủ thỉ an ủi con người”.
Nhờ thái độ
quyết liệt truy vấn “đau khổ nhất là khi phải giấu đi đau khổ”, ông có được nhiều
câu thơ gửi gắm khách tri âm “Không ai sinh ra để trở thành bất hạnh/ Bước chân
chúng ta tạo ra lối mòn/ Tâm trí chúng ta tạo nên đường gấp khúc/ Chúng ta sống
vì những nỗi chờ mong”, ông có được nhiều câu thơ giục giã trái tim mình “Mỗi
hoàng hôn tôi ngỡ trái đất tạm thời biến mất/ Thầm nhớ những cơn gió đầu đông/
Nhớ hương thơm của mùa Xuân bên ngõ/ Đi về lúa theo chân cánh đồng”. Và một trạm
sạc đầy run rủi của ông đã buông lơi những dòng rời rạc và khắc khoải:
“Xung
quanh chúng ta
Hàng giả
Đức tin giả
Lời nguyện
cầu giả
Người giả
Hỡi nhà
thơ
Thơ anh
Bao nhiêu
phần trăm là thật?”.
Giữa nhùng
nhằng giả và thật, hoặc giữa nhũng nhẵng thiện và ác, thi ca đều giống như mật
mã mệnh kiếp cứ thôi thúc nhà thơ không được phép mệt mỏi, không được phép bé mọn,
không được phép xu thời: “Anh đi tìm chân lý không phải để trở thành chân lý/
Anh hướng về giấc mơ không phải để sống như mơ”.
Bên cạnh mảng
thơ thế sự đang dần xác lập sở trường, Đinh Nho Tuấn trong tập thơ “Khói, bụi
và cỏ” vẫn rất uyển chuyển với thơ ân tình. Đó là thơ ân tình trước một bóng
dáng dịu dàng “Ngàn năm đời còn dại/ Xin giã từ cuồng phong/ Nhờ mắt em rửa tội/
Vùi tay người ngày đông”. Đó là thơ ân tình trước một đô thị cưu mang “Sài Gòn
vào mùa lặng yên/ Phố như là trong mộng/ Người như là trong say/ Ai gõ vào hồn
phách/ Mà đất trời ngất ngây”. Và hơn thế nữa, đó là thơ ân tình trước một
thiên nhiên độ lượng, giúp nôn nao không tàn lụi “tiếng ồn ào lá mùa thu đóng cửa
còn chưa tắt”, giúp bồi hồi không tan biến “những sáng mai mùa thu ra đi, sau
cơn gió phố vàng thêm lần nữa”.
Thơ Đinh
Nho Tuấn càng ngày càng cô đọng. Giữa “khói, bụi và cỏ”, trái tim nhà thơ không
để bất kỳ hình ảnh nào trôi dạt ra ngoài văn bản. Vì vậy, chân dung ông hiển lộ
đầy đủ trong thơ. Ông có điểm tựa hạnh phúc “Em chọn sinh vào thuở có ta/ Ta có
em nên đã sinh ra” nên thơ cũng có điểm tựa bâng khuâng “Tôi là đám mây bay
trên bầu trời quê hương/ Chính dòng Lam, dòng La, những người nông dân nâng tôi
lên/ Những cánh đồng quê nâng tôi lên/ Nơi ông bà cha mẹ tôi nằm xuống”.
LÊ THIẾU NHƠN

