“Đô thị
thi ca” có thể xem như một cuộc gặp gỡ giữa các thế hệ nhà thơ của TP.HCM sau
khi hợp nhất Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu. Đời sống tinh thần của những vùng đất
mới sáp nhập, chắc chắn sẽ được kích hoạt từ nền tảng sáng tạo vốn có ở khu vực
Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn. Trong đó, thi ca cũng là một phần quan trọng phản
ánh sức sống cộng đồng.
Thi ca đô
thị vốn đồng hành văn minh đô thị. Bây giờ, khi đã có Nghị quyết 80 của Bộ
Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị định 350 của Chính phủ về quy
định khuyến khích phát triển văn học, thì không gian đô thị thi ca sẽ có chiều
kích ra sao? Một đô thị hào hiệp và nghĩa tình như TP.HCM, chắc chắn đủ sức
dung nạp và đủ chỗ sáng tạo cho mọi khát vọng thi ca. Cho nên, không thể không
đặt ra những câu hỏi cần thiết cho tương lai đô thị thi ca.
Do đặc thù
xã hội truyền thống nông nghiệp, dòng chủ lưu thơ Việt vẫn đậm chất thương nhớ
đồng quê. Những hình ảnh bến nước, con đò, cánh đồng, lũy tre, mái đình… vẫn gợi
nhiều cảm hứng sáng tạo nhất trong thơ Việt từ năm 1975 đến nay. Vậy thì hơi thở
đô thị có thể tìm kiếm ở đâu? Nhiều thế hệ nhà thơ TP.HCM đã lấp đầy khoảng trống
ấy. Một trường thẩm mỹ thơ đô thị đã xuất hiện trong tác phẩm Triệu Từ Truyền,
Trần Hữu Dũng, Vũ Trọng Quang, Phạm Thị Ngọc Liên, Ly Hoàng Ly, Đoàn Vị Thượng,
Trần Lê Khánh, Nguyễn Phong Việt, Ngô Thị Hạnh, Nguyễn Đăng Khoa, Nguyệt Phạm,
Minh Anh… Đặc biệt, chất phóng túng bụi bặm của Bùi Chí Vinh trở thành một hiện
tượng thơ đô thị độc đáo.
Ngoài nỗ lực
cá nhân, diện mạo đô thị thi ca ở TP.HCM còn thể hiện ở các câu lạc bộ thơ duy
trì hoạt động khắp các xã phường, các trung tâm văn hóa, các hội đồng hương…
Các câu lạc bộ thơ ở TP.HCM đã chứng minh sự cởi mở và sự năng động trong quá
trình tiếp nhận và dự phần sáng tác văn chương của người dân đô thị.
Mỗi năm với
hàng trăm tập thơ được xuất bản và hàng chục cuộc gặp gỡ ra mắt tác phẩm mới,
sinh hoạt thi ca ở TP.HCM đã trở nên quen thuộc và phổ biến. Thế nhưng, dường
như vẫn còn quá sớm để tự mãn về thành tựu thơ TP.HCM. Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
cho rằng: “Diện mạo thơ hiện nay của TP.HCM phong phú và đa dạng. Nhiều lắm những
người làm thơ, nhưng thơ hay tạo nên sức cuốn hút thì hiếm lắm. Nhiều người chỉ
phản ánh tâm tư bé mọn của mình, viết chưa vượt qua đựơc cái tôi của họ, khiến
sợi dây gắn kết với cộng đồng vô cùng mong manh. Bạn đọc đang đặt ra nhiều đòi
hỏi khắt khe hơn với các nhà thơ TP.HCM. Công chúng không quay lưng với thi ca,
thì trách nhiệm của các nhà thơ cũng lớn lao hơn, cam go hơn”.
Tuy nhiên,
với tư cách một nhà lý luận phê bình, tiến sĩ Hà Thanh Vân lại đưa ra góc nhìn
khác: “Thi ca đô thị TP.HCM đương đại không chỉ là một hiện tượng văn học khu vực
mà còn là bộ phận tiên phong, nhạy bén nhất trong việc phản ánh những biến chuyển
của đời sống Việt Nam. Thi ca đã định vị được một hệ giá trị thẩm mỹ mới gắn liền
với đô thị. Đó không còn là cái nhìn lãng mạn hóa hay sử thi hóa, mà là cái
nhìn hiện thực, đa chiều và trực diện. TP.HCM hiện lên trong thơ không chỉ như
một đối tượng để ngợi ca mà như một không gian để đối thoại, nơi con người
không ngừng nỗ lực tìm kiếm sự cân bằng giữa những áp lực của tốc độ, công nghệ
và những giá trị nhân bản cốt lõi.
Sự trỗi dậy
của cái tôi cá nhân đa dạng cũng phải được kể đến. Thơ ca đô thị giai đoạn này
đã cho thấy một phổ biên độ rộng lớn của cảm xúc, từ nỗi đơn độc sâu thẳm của
các nhà thơ nữ, tính phản biện xã hội quyết liệt của các cây bút nam, đến sự
phá cách, phóng khoáng của thế hệ trẻ. Chính sự đa dạng này đã làm nên sức sống
bền bỉ và sự hấp dẫn riêng biệt của văn học phương Nam, góp phần làm phong phú
thêm diện mạo của thơ ca cả nước”.
Tương tự,
nhà thơ trẻ Trần Đức Tín khẳng định đóng góp của thế hệ anh cho đô thị thi ca
qua một phần tư thế kỷ 21: “Thơ phương Nam đã chứng kiến nhiều đổi thay, nếu phải
gọi tên một điều xuyên suốt, đó là khả năng tự làm mới mà không đánh mất căn cốt.
Những đợt sóng nối nhau, đẩy nhau đi, làm dày thêm diện mạo đô thị thi ca. Và
có lẽ, điều quan trọng nhất không phải là xác lập một “trường phái phương Nam”,
mà là nhìn thấy ở đó một vùng năng lượng sáng tạo đang tiếp tục vận động. Khi
các giọng thơ còn đối thoại với đời sống, còn tự vấn, còn tìm kiếm hình thức mới
cho cảm xúc của mình, thì biển thơ ấy vẫn còn sóng”.
Vốn là một
gương mặt nữ tiêu biểu trong đời sống thơ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trước đây, nhà
thơ Vũ Thanh Hoa mang đến tọa đàm “Đô thị thi ca” một thông tin đáng chú ý: “Nhắc
đến Bà Rịa – Vũng Tàu là nhắc đến khu vực trọng điểm của ngành dầu khí nước ta.
Từ môi trường lao động đặc thù ấy đã hình thành nên những tác phẩm góp phần tạo
dựng bản sắc riêng cho đời sống thi ca. Qua nhiều thế hệ, các tác giả đã khuất
như Duy Quế, Văn Bản, Phạm Văn Đoan, Vũ Đình Huy, Đàm Xuân Hoán… đã để lại một
di sản sáng tác giàu giá trị, trở thành nền tảng tinh thần cho lớp người viết
tiếp nối hôm nay như Đào Xuân Mai, Đặng Xuân Mộc, Nguyễn Trọng Hòa, Minh Nguyệt,
Hà Thái Quốc… tiếp tục bồi đắp và làm phong phú thêm diện mạo thơ của vùng đất
này”.
Tọa đàm
“Đô thị thi ca” cũng nhận được nhiều ý kiến chia sẻ của các nhà thơ Hoàng Hưng,
Phan Tùng Sơn, Hoàng Quý, Lại Văn Long, Lê Viết Hòa, Trần Thanh Pôn, Trầm
Hương… Hầu hết các nhà thơ đều thảo luận chung quanh những vấn đề cốt lõi như:
Thơ TP.HCM đang cần những trợ lực cụ thể gì, nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng
ít ỏi tiếng nói nghiêm túc trong lĩnh vực nghiên cứu và giới thiệu thơ, tìm đâu
một diễn đàn thơ thật sự có chất lượng cho đô thị hơn 14 triệu dân, một siêu đô
thị dẫn đầu cả nước về kinh tế có thể xây dựng một quỹ hỗ trợ để dịch thuật và
quảng bá thơ Việt ra thế giới không?
Trả lời được phần nào những câu hỏi ấy, cũng giảm bớt áp lực bơ vơ của mỗi tác giả trên từng trang bản thảo vần điệu. Trả lời được phần nào những câu hỏi ấy, cũng giúp công chúng thấu hiểu thêm về nơi ẩn hiện của chất thơ và nơi trú ngụ của hồn thơ, giữa lô nhô cao ốc kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.
TUY HÒA

