Nỗi khổ đắng ngắt của đời tôi chính là vì thành phần lý lịch gia đình có vấn đề nên những năm tháng quân ngũ của tôi rất thăng trầm. Hồi đó, với lời giới thiệu rất trân trọng của nhà thơ Hữu Thỉnh trong giấy Cảm Tình Đảng, lại học tốt, có thành tích nên đơn vị quyết đinh kết nạp tôi vào Đảng, chính trị viên của trường sĩ quan sau khi về địa phương xác minh lý lịch gia đình đã kết luận ‘không thể kết nạp tôi vào Đảng.


 TRẦN ĐĂNG KHOA VỚI "TIẾNG LÒNG KHÔNG DỄ NÓI RA"

NGUYỄN VIỆT CHIẾN

Bạn bè chơi với nhau cũng đã nhiều năm, tôi cũng không ít lần trò chuyện và đi công tác với nhà thơ Trần Đăng Khoa. Những để thực sự hiểu nhau thì lần đi thực tế sáng tác ở Quảng Nam- Đà Nẵng vào tháng 5/ 2025, ‘thần đồng thơ’ mới chịu bộc lộ với tôi những nỗi lòng không dễ nói ra phía sau bức tranh văn nghiệp thành công. Nhà thơ Trần Đăng Khoa sinh ngày 26.4.1958 tại thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũ.

Trần Đăng Khoa nổi tiếng là ‘thần đồng thơ’ từ lúc 7-8 tuổi, tập thơ Từ góc sân nhà em in lúc vừa tròn 10 tuổi, ngoài thơ còn viết phê bình văn học và văn xuôi. Các tác phẩm đã xuất bản: Từ góc sân nhà em (thơ, 1968); Góc sân và khoảng trời (thơ, 1973… tái bản 168 lần); Thơ Trần Đăng Khoa (tập 1, 1970);Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974);Trừng phạt (trường ca, 1973); Giông bão (trường ca, 1983); Bên cửa sổ máy bay (thơ, 1986; tái bản, bổ sung 2009); Thơ Trần Đăng Khoa (tập 2, 1983);Chân dung và đối thoại (1998);Người thường gặp (2000); Đảo chìm & Trường Sa (2016); Đảo chìm (in lần thứ 49 năm 2025)’ Hầu chuyện Thượng đế (đàm thoại văn học, 2015) và nhiều tập khác được dịch in ở nước ngoài. Các giải thưởng văn học: Ba lần giải nhất thơ báo Thiếu niên Tiền phong (1968, 1969, 1971); Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1981-1982); Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.

‘LÀM ĐƯỢC THƠ HAY, MỘT PHẦN CÒN DO ÔNG GIỜI’

Với bản lý lịch văn học cùng các thành tựu văn chương nói trên, tưởng như con đường văn nghiệp của Trần Đăng Khoa luôn ‘thuận buồm xuôi gió’ gặt hái hết thành công nọ đến thành tích kia, nhưng thực ra trên con đường ấy, Khoa từng trải qua nhiều nỗi thăng trầm cay đắng với sự bi hài không dễ nói ra. Hình như chưa bao giờ ông nói ra điều ấy và ngay trong bản tự thuật ‘Chân dung tự họa’ viết về mình in trong cuốn sách ‘Nhà văn Việt Nam hiện đại’, ông cũng không nhắc đến.

Ở bản tự thuật này, với giọng hài hước, ông trải lòng mình trong đoạn văn có tính giễu nhại như sau: ‘Trần Đăng Khoa là con thứ ba trong một gia đình nông dân ở ven sông Kinh Thày. Thuở nhỏ, y từng mơ ước trở thành kỹ sư nông nghiệp và suốt đời làm thơ về làng quê, cảnh quê, những vui buồn của người dân quê nơi xóm mạc. Nhưng rồi, cũng như nhiều thợ cày trong làng, y lên đường nhập ngũ vào những tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trở thành nhà thơ khoác áo lính. Đối với Trần Đăng Khoa thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Suốt đời, y luôn có ý thức vươn tới loại thơ đó. Tuy nhiên, theo lời y, để làm được điều ấy, một phần còn do ông giời. Nhưng phần ấy là bao nhiêu và ông giời ở đâu, tính khí ông ta thế nào, thì suốt đời y không thể hiểu nổi.

Bài thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa được in báo Văn Nghệ tháng 5/1966. Khi đó, y tám tuổi, đang học ở học kỳ 2 lớp 1 trường làng. Bấy giờ, người làm thơ còn ít. Trẻ con làm thơ lại càng ít, nên tự dưng, y thành của hiếm, thành đặc sản. Nhiều người tò mò, vượt hàng trăm cây số bom đạn, lặn lội đến nhà y, chỉ để… xem y như xem…ma quỷ hiện hình. Không ít người còn bắt y xòe tay, ngó đường chỉ, vạch tóc xem xoáy đầu, rồi lặng lẽ ra đi với gương mặt rất bí hiểm. Bây giờ, y đã già và dứt khoát không phải kẻ đắc đạo. Vậy mà y vẫn phải còng lưng, ỳ ạch vác cây thánh giá của cái tuổi trẻ con. Những năm gần đây, ngoài làm thơ, y còn viết báo, viết văn, viết bình luận văn chương và chân dung văn học. Đề tài y quan tâm là các nhà văn và những vấn đề của văn học Việt Nam đương đại. Ngoài những trang viết, mà ở đấy phần nhiều y dồn hết tâm lực, còn ngoài đời, y là tay nhạt nhẽo và tầm phào. Y chăng đam mê gì, và nói chung, y là gã vô tích sự”

Với bản lý lịch tự thuật có tính đùa cợt nêu trên, Trần Đăng Khoa tỏ ra rất hóm hỉnh nhưng khá bản lĩnh khi xem thường mình với nụ cười giễu nhại đậm chất văn chương. Tháng 5/2025 vừa qua, trong một đêm Hội An, sau khi dự lễ ra mắt cuốn sách ‘Khát vọng hòa bình’ do Nxb Hội nhà văn ấn hành kỷ niệm 50 năm thống nhất Đất nước tại xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam, tôi và Trần Đăng Khoa ở chung buồng, lại có dịp tâm sự, hàn huyên với nhau về thi ca, về nỗi đời, nỗi người trong ký ức về những tháng năm đã trải qua.

Trần Đăng Khoa kể lại, hồi còn nhỏ, làm thơ năm lên tám tuổi 1966 mọi người chỉ gọi Khoa là ‘cháu ngoan Bác Hồ’ hoặc ‘em bé tập làm thơ’ chứ tuyệt nhiên không ai gọi là ‘thần đồng thơ’, mãi tới hai chục năm sau 1986, vào thời đổi mới, người ta mới gọi Khoa bằng biệt danh này. Lúc ở tuổi trẻ thơ, trên mặt báo, Khoa chỉ xuất hiện như một ‘hiện tượng lạ’ và cậu bé chục tuổi thấy rất ngạc nhiên vì nhà lúc nào cũng đông khách tới chơi, ghé thăm và ở lại ăn cơm mà thức ăn chẳng có gì ngoài chút cua cáy bắt ở ngoài đồng.

Lúc bấy giờ báo chí miền Bắc nhắc đến hai hiện tượng lạ: Trần Đăng Khoa 8 tuổi làm thơ và Nguyễn Ngọc Ánh làm toán - ‘học lớp 2 mà làm được toán lớp 7’. Thơ Khoa làm năm 8-9 tuổi được thầy giáo trường làng gửi cho báo Văn Nghệ in lần đầu tiên, sau đó nhà văn Nguyễn Xuân Khánh ở báo Thiếu niên Tiền phong về tận nhà Khoa ở xã Quốc Tuấn, Nam Sách, Hải Dương viết bài: Cháu ngoan Bác Hồ - Chú bé làm thơ, rồi lấy thơ Khoa về in. Bài thơ đầu tiên in báo là bài ‘Ảnh Bác’ Khoa viết năm tám tuổi ‘Nhà em treo ảnh Bác Hồ/Dưới là một cái bàn thờ đỏ tươi/Ngày ngày bác mỉm miệng cười/ Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà…’ được biên tập viên sửa cho một câu‘Nhà em treo ảnh Bác Hồ/ Bên trên là một lá cờ đỏ tươi…’ in ở trang nhi đồng làm thơ của báo Văn Nghệ. Lúc đó, nhà thơ Trần Nhuận Minh, với bút danh Trần Bình Minh, anh ruột của Khoa dạy học dưới Quảng Ninh, ít khi về nhà, cũng không biết em mình có thơ in báo trung ương.

Khoa kể lại: ‘Lúc đó tôi in báo bài ‘Ảnh Bác’, mọi người đã ầm ĩ lên rồi, học lớp 2 thầy giáo lên đường đi bộ đội, cả lớp khóc như có tang khi tiễn thày đi. Cô giáo dạy thay gợi ý bảo Khoa làm bài thơ chúc thầy ‘rời tay bút thì chắc tay súng’với mấy câu nôm na như sau ‘Rời tay bút thầy ghì tay súng/Trên chiến hào bắt chúng chạy xa/Bao giờ nhớ đến trường ta/ Thì thầy đánh Mỹ thật là hăng say’. Mới đây, Khoa tình cờ tìm lại được tập thơ chép tay lúc 8-9 tuổi được một cô giáo gửi tặng, trong đó có nhiều bài thơ viết lúc trẻ con, Khoa bảo nhiều bài như hò vè, ngớ ngẩn, viết dở lắm, không dám in báo’.

KHÁCH ĐẾN NHÀ RA ĐỀ, BẮT LÀM THƠ

Rồi Trần Đăng Khoa cười, nụ cười rất hồn nhiên, hiền hậu: ‘Hồi đó, mọi người đến chơi nhà, đều ra đề như thử thách, bắt tôi làm thơ ngay tại chỗ, thế có khổ tôi không chứ. Thoạt đầu tôi rất khó chịu, nhưng sau quen, cũng thấy vui vui. Họ bảo em hãy viết bài thơ về vườn rau cải nhà em đi, hay viết bài thơ về cây dừa đi, rồi họ chỉ vào bức tranh treo trên tường bảo làm thơ đi. Vậy là tôi trong vòng năm, mười lăm phút phải làm bằng xong bài thơ. Phần lớn tập thơ ‘Góc sân- Khoảng trời’ tôi viết theo kiểu ấy, thế thì bằng tra tấn nhau rồi nhỉ khi ngày nào khách đến nhà cũng ra đề, bắt làm thơ’.

Khoa cười hỉ hả: ‘Hồi đó họ không tin tôi làm được thơ nên mới bắt tôi làm theo kiểu ‘xuất khẩu thành thơ’ vậy đó, thế thì khổ quá đi chứ, nhưng mình hồi đó là trẻ con nên rất hồn nhiên, thấy người lớn bảo sao mình làm vậy cho họ vui lòng’, rồi Khoa nhẩn nha đọc bài Cây dừa viết năm 1967 là bài thơ bị viết theo kiểu ra đề mà Khoa ưng ý nhất: ‘Cây dừa xanh toả nhiều tàu/Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng/Thân dừa bạc phếch tháng năm/Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao/Đêm hè hoa nở cùng sao/Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh/Ai mang nước ngọt, nước lành/Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa/Tiếng dừa làm dịu nắng trưa/Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo/Trời trong đầy tiếng rì rào/Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra/Đứng canh trời đất bao la/Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi’.

Khoa tâm sự với tôi: ‘Bác ạ, các bài thơ kiểu ra đề nói trên, có thể nói tôi vẩy tay là làm ra luôn, nhưng đặc biệt có một số bài thơ mà cho đến bây giờ mình có muốn cũng không sao viết lại được như bài thơ Trăng sáng sân nhà em chỉ có mấy cây lặp đi lặp lại mà không có cảm giác lặp. Hay bài Đêm Côn Sơn. Năm ấy tôi đang học lớp 3, đã cùng các bạn trong lớp và đoàn báo Thiếu niên Tiền phong có hai nhà báo Quản Tập và Cửu Thọ có bút danh là‘Bút thép, Bóng nhựa’ dẫn lên thăm khu di tích thờ anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Đêm xuống, mọi người cắm trại ngủ ngoài rừng, riêng tôi và mấy người ngủ trong Chùa. Nhà báo Quản Tập bảo tôi:‘Khoa ơi ngày mai cháu làm một bài thơ đêm ngủ ở Côn Sơn để tối mai đọc cho các bạn cùng nghe’, tôi nghĩ ông này cũng muốn thử tài mình đây, và tôi viết bài Đêm ngủ ở Côn Sơn ngay trong đêm ấy khi tiếng chuông vang nghe như tiếng sấm rền: ‘Tiếng chim vách núi nhỏ dần/ Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa/ Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng/ Mờ mờ ông bụt ngồi nghiêm/ Nghĩ gì, ông vẫn ngồi yên lưng đền/ Bỗng đâu vang tiếng sấm rền/ Tỉnh ra em thấy trong đền đỏ hương/ Ngang trời kêu một tiếng chuông/ Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào/ Đồi thông sáng dưới trăng cao/ Như hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm/ Em nghe có tiếng thơ ngâm/ Ngoài kia nòng pháo ướt đầm sương khuya’.

Bài thơ này tôi làm trong khoảng mười mấy phút và ngay sau đó anh Quản Tập mang về đăng báo Thiếu Niên Tiền Phong, đây là bài thơ không thể viết lần thứ hai, cũng là bài thơ viết theo kiểu người khác ra đề để thử thách mình thôi. Hồi ấy, tôi làm thơ từ khi học lớp vỡ lòng, tôi làm thơ rất nhanh, bài ‘Hạt gạo làng ta’ rồi ‘Sao không về vàng ơi’ cũng chỉ làm chừng khoảng mười mấy phút. Bài còn có tên Mất chó. Sau lấy một câu lên làm tên bài Sao không về hả chó Bài thơ về nỗi buồn mất chó. Câu cuối: Tao nhớ mày lắm đó – Chó ơi là chó ơi! Đăng báo, ông biên tập nào chữ hộ một chữ Vàng ơi là vàng ơi! Hay hơn. Vì nó thành tiếng khóc. Chứ khóc bạn mà Chó ơi là chó ơi thì tai hại quá. Tôi không thể có tư duy ấy, vì chó nhà tôi là chó đen. Đen kịt chả có cái lông nào vàng.

Thế là tôi lại rút ra được bài học. Không phải viết cái thấy, mà viết cái cần có dù thực tế không có. Tôi cứ tự làm tự học nghề như thế trong suốt cuộc đời mình. Bài học ấy chẳng trường nào dạy được, dù tôi được đào tạo rất cơ bản sau này ở cả trường ta, trường tây. Bài thơ đăng báo xong thì con chó lù lù về. Tôi mừng quá viết bài Chó về, nhưng thơ thối lắm, nên không dám in, tôi thú thật có những bài viết theo yêu cầu thì hay, tự mình viết thì dở lắm. Khổ thế đấy, khách đến chơi nhà, ra đề bắt làm thơ, có ngày tôi làm cả chục bài, thì làm sao mà bâif nào cũng hay được. Tập thơ ‘Góc sân-Khoảng trời’ tôi viết hồi trẻ con đến giờ đã tái bản 168 lần, chưa kể các nhà sách họ tự in’. Vậy là tôi làm thơ liên tục từ vỡ lòng, lớp 1 đến lớp 9, lớp 10 thì viết cả loạt trường ca như ‘Đi đánh thần hạn’, ‘Cái phích hoa’… và hay nhất là ‘Khúc hát người anh hùng’ đều trên dưới 2000 câu thơ, tôi viết như kể chuyện. Năm 1972 tôi đã được mời đi dự trại hè thiếu nhi ở Cu-Ba mà địa phươngkhông cho đi vì thành phần lý lịch có vấn đề…’.

CÂU CHUYỆN LÝ LỊCH

Trần Đăng Khoa cho biết thêm, hồi nhỏ ngoài làm thơ cũng là học sinh giỏi văn, từng đoạt giải nhất thi văn lớp 7 miền Bắc, đạt 20/20 điểm, bài thi này Khoa cũng đưa thơ vào. Đang học dở lớp 10 thì Khoa xung phong vào bộ đội vào tháng 2/1975 và bắt đầu trải qua cuộc đời quân ngũ với nhiều thăng trầm cùng nỗi khổ không dễ gì nói ra vì thành phần lý lịch gia đình có vấn đề nên Khoa không thể vào đại học. Thời gian đầu Khoa là lính bộ binh ở Quân khu 3, rồi sang Cămpuchia, vào Nông-Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979, từng 3 lần sa vào ổ phục kích của cả ta và giặc mà may mắn sống sót. Sau đó, Khoa chuyển sang quân chủng hải quân, đi công tác ở quần đảo Trường Sa, và chùm thơ viết trên đảo Sinh Tồn đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1982.

Thời gian sau Khoa được cử đi học ở Trường Viết văn Nguyễn Du rồi theo học Trường sĩ quan Lục quân với quân hàm chuẩn úy. Khoa học rất giỏi và còn viết kịch để cho đơn vị diễn. Chủ nhật mọi người trong đơn vị phải lên rừng kiếm củi và nhặt phân bò, Khoa được nghỉ nửa ngày để viết kịch và vở kịch đó được tặng thưởng huy chương vàng trong hội diễn quần chúng. Nhớ về những năm tháng đó,

Khoa buồn bã nói với tôi ‘Nỗi khổ đắng ngắt của đời tôi chính là vì thành phần lý lịch gia đình có vấn đề nên những năm tháng quân ngũ của tôi rất thăng trầm. Hồi đó, với lời giới thiệu rất trân trọng của nhà thơ Hữu Thỉnh trong giấy CẢM TÌNH ĐẢNG, lại học tốt, có thành tích nên đơn vị quyết đinh kết nạp tôi vào Đảng, chính trị viên của trường sĩ quan sau khi về địa phương xác minh lý lịch gia đình đã kết luận ‘không thể kết nạp tôi vào Đảng’. Vì lý lịch xấu. Ngày tốt nghiệp trường sĩ quan Lục quân, mọi người đều được phong hàm trung úy, riêng tôi vẫn chỉ là chuẩn úy như ngày mới vào trường nhập học.

 Chính trị viên đơn vị bảo tôi ‘Đồng chí không phải là người chúng tôi đi tuyển vào trường mà do Tổng cục Chính trị gửi đi học nên chúng tôi không phong quân hàm’. Tôi nói thật với ông, đêm ấy khóc. Khóc vì buồn úa. Buồn không phải cho tôi. Tôi ôm hàm chuẩn úy trở về với Hải quân, lại tiếp tục đi Trường Sa. Tôi ra cùng lính hải quân giữ đảo Thuyền Chài giữa đại dương mênh mông bão gió, trú dưới mái lều bạt phong phanh, làm gì được như bây giờ. Rất may, thời gian ấy Trường Sa không có bão lớn chỉ có áp thấp nhiệt đới, biển chỉ dựng sóng lên sôi sùng sục chứ không phải bao tố nên tôi vẫn tồn tại, viết được khá nhiều, trong đó có cuốn “Đảo chìm” khá ăn khách.

Hải quân cho người về trường Lục Quân thẩm tra, rồi quyết định kết lạp đảng, vì không kết nạp Đảng thì không lên sĩ quan được và phải ra quân. Hồi đó, tôi đi nói chuyện, đi đọc thơ ở nhiều nơi và các đơn vị, lính tráng mê lắm, Trung ương Đoàn, do anh Doãn Thắng, con trai nhạc sĩ Doãn Mẫn về Hải quân cho biết họ dự định đưa tôi vào Ban chấp hành Trung ương Đoàn vì tôi rất giỏi ở khoản tuyên truyền nhưng cũng không xong vì tôi chưa phải Đảng viên.

Quân chủng Hải quân giao cho nhạc sĩ Thế Dương đã 9 lần về thuyết phục địa phương, nhưng cũng không được. Lần cuối cùng phải làm việc với Tỉnh ủy Hải Dương, họ đồng ý cho kết nạp tôi vào Đảng với kết luận ‘Lý lịch rõ ràng, nếu phấn đấu tốt thì có thể kết nạp ở dạng đặc biệt nhưng không giao bất cứ nhiệm vụ gì từ phó bí thư chi bộ phụ trách tổ chức trở lên’. Tôi được kết nạp Đảng, sau đó lên Thiếu úy, 6 tháng sau lên Trung úy như thời ở Lục quân rồi thi vào trường viết văn Nguyễn Du với 30 điểm ba môn được cử đi học trường viết văn Gorki ở Liên Xô cũ. Sau 6 năm tốt nghiệp, tôi về công tác ở Tổng cục Chính trị, 10 năm làm phóng viên ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nhưng chưa bao giờ được làm biên tập mà chỉ là phóng viên thôi. Rồi anh Vũ Hiền, UVTUD, TGĐ xin tôi sang Đài. Tôi được phong hàm thượng tá để ra quân, chuyển về công tác ở Đài tiếng nói Việt Nam’.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho biết thêm, khi về Đài tiếng nói Việt Nam, thật sự Khoa đã được đổi đời nhờ ông Vũ Văn Hiền, Tổng giám đốc của đài. Lúc đó, đài đang khuyết chức Trưởng ban Văn nghệ, ông Vũ Văn Hiền quyết định đưa Khoa lên phụ trách ban, một cán bộ chức năng nhắc nhở ‘Khoa về đây chỉ làm nhân viên thôi, không thể đưa lên trưởng ban được’. Ông Hiền bảo ‘Tôi cần cán bộ làm trưởng ban Văn nghệ chứ không cần nhân viên. Tôi hiểu chú ấy chứ, một bài thơ của chú ấy thời chiến tranh bằng sức mạnh của cả một đạo quân. Tôi cứ dùng, nếu nói chú ấy ‘đen’ thì tôi nhuộm thành ‘đỏ’.

Sau đó, đài nhận được một công văn của cơ quan chức năng với ý kiến ‘Không nên dùng Trần Đăng Khoa’, nhưng TGĐ Vũ Văn Hiền vẫn kiên quyết đưa Khoa lên làm trưởng ban, rồi sau đó làm Giám độc Kênh truyền hình VOV, rồi sau đó nữa, làm Phó Bí thư Thường trực Đảng, tương đương với Phó TGĐ. Sau này, Khoa được nhà thơ Hữu Thỉnh đưa sang Hội nhà văn VN làm Bí thư Đảng bộ HNV kiêm Phó chủ tịch Hội đến hôm nay.

Năm 2025, nhà thơ Trần Đăng Khoa xin phép Hội nhà văn Việt Nam cho thôi tất cả các chức vụ trong Ban chấp hành và xin thôi cả chức Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội để về hưu. Khoa tâm sự với tôi: “Thật ra, tôi làm thơ trẻ con thời chống Mỹ cũng chính là làm công tác Tuyên giáo, công tác Chính trị từ bé đấy chứ. Giờ thì tôi chỉ muốn về nghỉ thôi ông ạ, nghỉ tất cả, tôi đang nhiều bệnh lắm, chẳng biết còn sống được bao lâu nữa, nên dành chút thời gian còn lại, viết được gì thì viết, nhiều nơi họ yêu quý mời tôi đi nói chuyện, tôi cũng không đi hết được, phải nghỉ thôi”.

Tôi cũng đồng ý với Trần Đăng Khoa, vì cứ phải vác mãi ‘Cây thánh giá của cái tuổi trẻ con là thần đồng thơ’ thì nhiều lúc cũng thấy nặng vai, nặng tâm lắm chứ. Tôi chúc ông sau khi về hưu, luôn vui khỏe cùng vợ con, bạn bè văn chương nhưng không được bỏ thơ, bỏ viết vì chưa đến tuổi phải từ bỏ tất cả, Khoa nhỉ...