Tôi chợt nhớ đến trường ca “Những người trên cửa biển” của Văn Cao. Tôi đã đọc trường ca này ở Hà Nội, trước khi đi chiến trường Nam Bộ. Chính cái đầu đề “Những người trên cửa biển” của Văn Cao đã gợi ý cho tôi: mình có thể đổi đầu đề trường ca của mình là “Những người đi tới biển”.
Tháng 3
năm 1976 tôi khoác ba lô từ Hà Nội về Đà Nẵng. Không phải tôi đi du lịch, hay
đi phượt như bây giờ các bạn trẻ hay đi. Tôi bọc trong túi giấy tờ của Tổng cục
Chính trị đồng ý cho tôi về Đà Nẵng biên chế vào Trại sáng tác văn học Quân khu
5. Thế là khát khao lớn nhất của tôi đã được thực hiện. Nhà văn Nguyễn Chí
Trung, “sếp” của Trại sáng tác này đã gửi công văn ra Tổng cục Chính trị xin
tôi về Trại. Đó là cái công văn tôi chờ mà không dám tin là mình nhận được.
Về tới Đà
Nẵng, chính thức là thành viên của Trại sáng tác văn học lớn nhất và đầu tiên
trong cả nước, tôi rất vui, vì mình đã ôm ấp một trường ca muốn được viết mà
chưa có cơ hội. Bây giờ thì cơ hội đã đến.
Tôi đăng
ký trực tiếp với anh Nguyễn Chí Trung, là sẽ viết một trường ca về chiến tranh.
Thực ra, lúc ở chiến trường Nam Bộ, tôi đã viết được hơn 100 câu thơ, gọi là
“phác thảo” trường ca tương lai này. Rồi tôi tạm đặt tựa đề cho trường ca đầu
tiên của mình là “Tháng năm và giây phút”.
Cuối tháng
5 năm 1975, khi từ Sài Gòn tôi theo đoàn nhà văn miền Trung gồm anh Nguyên Ngọc,
anh Nguyễn Chí Trung, anh Thu Bồn, chị Ý Nhi, bạn Ngô Thế Oanh đi lên Đà Lạt
trước khi về miền Trung, tôi đã có cơ hội dự một “Đêm không ngủ” với các bạn
sinh viên tranh đấu ở Đà Lạt. Trong cuộc vui đó, khi được giới thiệu đọc thơ,
tôi đã chọn ngót trăm câu thơ trong bản thảo “Tháng năm và giây phút”. Đó là lần
đầu tiên tôi đọc thơ mình cho sinh viên đô thị miền Nam nghe. Hơi có vẻ cảm động.
Rồi tới
khi được rảnh rang ngồi vào bàn viết ở Trại sáng tác Quân khu Năm, một điều tôi
mơ ước từ rất lâu, thì tự nhiên, tôi nhận được một gợi ý từ vô thức của mình.
Tôi chợt nhớ đến trường ca “Những người trên cửa biển” của Văn Cao. Tôi đã đọc
trường ca này ở Hà Nội, trước khi đi chiến trường Nam Bộ. Chính cái đầu đề “Những
người trên cửa biển” của Văn Cao đã gợi ý cho tôi: mình có thể đổi đầu đề trường
ca của mình là “Những người đi tới biển”. Nghe có lý hơn. Như thế, từ “Tháng
năm và giây phút” đã thành “Những người đi tới biển”. Vì sao là “Những người đi
tới biển”? Tôi nghĩ, thế hệ chúng tôi tham gia chiến tranh một cách tự ý thức,
vì thế, “đi tới biển” chính là đi với nhân dân mình. Nhân dân mình là biển, điều
này Nguyễn Trãi đã nói từ mấy trăm năm trước.
Từ lúc đổi
tên trường ca, tôi viết cảm thấy “trôi” hơn, cứ như mình là một chiếc lá nhỏ bé
gặp dòng sông, cứ thế trôi ra tới biển.
Năm 1976
là “năm Bính” của tôi. Vậy mà có những chuyện lớn tôi tính được và hoàn thành
cơ bản trong năm này. Đầu tiên là chuyện viết trường ca. Rồi tới chuyện tình
yêu. Cô gái tôi yêu và yêu tôi đã chấp nhận sẽ đi suốt đời với một anh lính –
nhà thơ nghèo là tôi. Tôi đã đưa em về ra mắt thầy má mình và được thầy má hân
hoan đồng ý.
Chỉ có một
chuyện tôi không thể tính mà lại được. Đó là năm 1976, tôi được thăng cấp, từ
thiếu úy lên trung úy. Thật tôi sung sướng vô cùng vì cú thăng cấp này. Vì từ
đó, lương tôi từ 65 đồng (lương thiếu uý) lên 75 đồng (lương trung uý). Ai đã sống
thời đó mới thấu hiểu, thêm được 10 đồng bạc lương mỗi tháng quan trọng như thế
nào. Tôi thì quá thấm chuyện túi thường xuyên khô tiền khổ như thế nào. Có lúc
đi chơi với người yêu tôi phải xin em 5 xu để uống chén trà vỉa hè.
Chưa kể,
khi mình là nhà thơ – trung uý, tôi nhớ ngay tới những nhà văn, nhà thơ Liên Xô
sau chiến tranh Vệ quốc đã viết được những tác phẩm hay như thế nào, khi họ đều
là trung uý Hồng quân. Mười đồng lương thêm khi lên trung uý vừa động viên vật
chất, vừa động viên tinh thần là như vậy.
Vậy là chỉ
còn chuyện tập trung vào viết trường ca “Những người đi tới biển”.
Cuối năm
1976, tôi đã hoàn thành trường ca này. Khi đưa cho “sếp” Nguyễn Chí Trung thẩm
định, tôi nhận được cú gật đầu của một nhà văn rất khó tính và kỹ tính. Ông
Trung chỉ nói tôi phải sửa một chữ duy nhất. Đó là chữ “rạn” trong câu thơ “Đòn
gánh tre chín rạn hai vai”, thơ Nguyễn Du, ông Trung nói phải chữ “dạn” mới
đúng, “Đòn gánh tre chín dạn hai vai”. Tôi đồng ý ngay. Đúng là “sếp” có khác,
nói không sai chút nào.
Viết xong
cái trường ca dài hơn 1.200 câu thơ, mừng quá, mời nhà thơ Thu Bồn nghe, có kèm
rượu và mồi đưa cay. Anh Thu Bồn nghe trong cảm xúc, khi tôi đọc tới câu “Xin
má cứ nhai trầu cho buổi chiều yên tĩnh/ Chưa tắt ngấn cười kia thì trăng khuyết
lại trong”, anh Thu Bồn đã bật khóc. Anh nhớ tới mẹ mình, người mẹ đã chờ anh
suốt cuộc chiến tranh.
Nhà văn
Nguyễn Chí Trung khi “duyệt” xong cái trường ca của tôi, ông đã cho đánh máy và
gửi ngay ra Nhà xuất bản Quân đội. Lúc bấy giờ, biên tập thơ cho nhà xuất bản
này là nhà thơ Tạ Hữu Yên, một người anh từng cùng ở Phòng Tuyên truyền Binh vận
với tôi tại Hà Nội, trước khi tôi đi chiến trường. Anh Tạ Hữu Yên nhận biên tập
ngay, cùng lúc nhà văn Nguyên Ngọc đang ở trong Ban lãnh đạo Hội Nhà văn Việt
Nam, nghe “đồn” về trường ca “Những người đi tới biển”, anh nói với anh Tạ Hữu
Yên cho anh mượn bản thảo để đọc xem thế nào. Hoá ra, khi đọc xong, anh Nguyên
Ngọc nói với Nhà xuất bản Quân đội phải in ngay trường ca này.
Và thế là,
từ khi tác phẩm được gửi ra nhà xuất bản tới lúc sách in xong, chỉ trong vòng
ba tháng. Đó là kỷ lục “xuất bản nhanh” thời bấy giờ.
Sau Tết
Nguyên đán năm 1977, tôi tổ chức cưới vợ tại Hà Nội, và đón tác phẩm đầu tay của
mình vừa được in. Hồi đó giấy in xấu, nhưng bìa là của họa sĩ Đinh Cường vẽ. Thật
tôi mừng hết lớn.
Đọc lại
trường ca đầu tay của mình, tôi cảm thấy cái được nhất của tác phẩm này là sự
trong trẻo. Từ 4 câu thơ đầu tiên: “Khi con thưa với mẹ/ mưa bay mờ đồng ta/ ngày
mai con đi/ khói bếp mẹ con mình chợt ngừng trên mái rạ” tới 4 câu gần cuối của
trường ca “lúc em vốc lên bàn tay nước mặn/ là em đã gặp cuộc đời anh/ dưới mặt
trời đang chầm chậm kết tinh/ hạt muối nhỏ ngây thơ thuần khiết”
5 năm đi và sống ở chiến trường của tôi đã không vô ích. Đó là cái vốn quý nhất của cuộc đời tôi. Cho tới tận bây giờ, khi tôi bước sang tuổi 80.

