Nhà văn Nguyễn Chí Trung khi làm Trợ lý Tổng bí thư, một lần đi công cán bỗng nhận được phong bì biếu xén, ông “quỳ xuống lối đi giữa hai hàng ghế (máy bay), hai tay nâng phong bì lên trên đầu: Kính thưa Nhân dân, kính thưa Tổ quốc! Nguyễn Chí Trung tôi không bao giờ dám nhận những món tiền như thế này đâu ạ”.


 

NHÀ VĂN VÀ TRANG VIẾT

BÙI SỸ HOA

Bên cạnh nhiều tập thơ gây ấn tượng với bạn đọc lâu nay, Nhà thơ Vương Trọng vừa cho ra mắt tập chân dung văn học “Khi tác giả trở thành nhân vật” phần lớn viết về nhà văn quân đội.

Dù đã đăng rải rác trên các báo trước đó, nhưng khi được tập hợp lại thành sách, các “bức chân dung nhà văn” do Vương Trọng “vẽ” nên càng cho thấy sự đa dạng, bổ sung lẫn nhau, vừa đậm nét nhân vật vừa nêu bật được nhiều vấn đề trong sáng tác văn chương cũng như trong đời sống.

Điều đó xuất phát từ cách kể chuyện vừa gọn ghẽ, gần gũi vừa thông minh, hóm hỉnh của một “ông đồ Nghệ”, cái tài nhớ dai những câu chuyện riêng tư, cá tính nổi trội gắn liền với “nhân vật” nhà văn từng đóng góp nhiều tác phẩm nổi tiếng xưa nay.

Điều đáng nói là sau mỗi chuyện vui, chuyện trạng, những lời nói và hành động chứng minh cá tính trong lối sống, trong cách viết của từng tác giả/ nhân vật, người đọc còn nhận ra những điều lớn lao, nghiêm túc hơn, cần thiết hơn về nhà văn, nhất là nhà văn quân đội và những kinh nghiệm lãnh đạo văn nghệ, kinh nghiệm viết văn, vượt lên những thử thách thời bình, về những tình huống cá nhân trong đời sống trước, trong và sau chiến tranh.

Đó là câu chuyện về nhà thơ Vũ Cao, người giữ chức danh Chủ nhiệm (Tổng biên tập) Tạp chí Văn nghệ quân đội được coi là “thời hoàng kim” đầy ắp tiếng cười, vậy nhưng khi được hỏi kinh nghiệm lãnh đạo văn nghệ lại nhận được câu trả lời rất …văn nghệ là “không lãnh đạo gì cả!”.

Đó là câu chuyện nhà văn Nguyễn Chí Trung khi làm Trợ lý Tổng bí thư, một lần đi công cán bỗng nhận được phong bì biếu xén, ông “quỳ xuống lối đi giữa hai hàng ghế (máy bay), hai tay nâng phong bì lên trên đầu: Kính thưa Nhân dân, kính thưa Tổ quốc! Nguyễn Chí Trung tôi không bao giờ dám nhận những món tiền như thế này đâu ạ”.

Đó là câu chuyện riêng của nhà văn Nam Hà nói với cựu binh Mỹ năm 1999 “khi đứa con đầu lòng sắp ra đời, anh không quan tâm là trai hay gái, đẹp hay xấu…mà chỉ mong nó có đầy đủ mặt mũi, tay chân”.

Trong sách, khá nổi bật là những câu chuyện liên quan mật thiết với những trang viết thấm đẫm hơi thở chiến trường, đầy mồ hôi, nước mắt và máu của các nhà văn áo lính để cho ra đời những tác phẩm từng bước xứng đáng với tầm vóc của những cuộc kháng chiến lừng danh của dân tộc ta.

Đọc những trang chân dung các nhà văn Nguyễn Chí Trung, Nam Hà, Chu Lai, Trần Hữu Tòng…sẽ thấy hiện lên câu chuyện đi thực tế sáng tác của những người lính phải cầm súng trước khi cầm bút, phải chiến đấu bảo vệ mình và đồng đội trước khi nghĩ về sáng tác và lao động nhà văn của họ phải nói chính xác là chiến đấu- lao động nhà văn.

Nhà thơ Vương Trọng kể chuyện đi thực tế của tác giả “Bức thư làng Mực”, “Tiếng khóc của nàng Út” như sau: “Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, thật hiếm có nhà văn, nhà báo đi thực tế chiến trường như Nguyễn Chí Trung. Không những ông chọn những nơi ác liệt nhất để đến, khi đến nơi thì học tập và bàn bạc phương án tác chiến với chỉ huy đơn vị, cùng trực tiếp tham gia chiến đấu. Trận đánh cứ điểm Thượng Đức năm 1974 là một ví dụ: ông đã theo sát tổ bộc phá đánh cửa mở, một nhiệm vụ quan trọng và nguy hiểm bậc nhất của chiến dịch”.

Rồi từ chuyện của chính mình từng có mặt ở chiến trường Căm-pu-chia từ 1979 về sau, nhà thơ Vương Trọng kể “đi đến đâu cũng nghe nói nhà văn Nguyễn Chí Trung vừa mới ở đây” và “…việc đi lại (ở Cam-pu-chia - TG) hết sức nguy hiểm vì địch phục kích và gài mìn khắp nơi, nhưng với Nguyễn Chí Trung, cần là đi, đã đi là phải đến!

Trận đánh vào cao điểm 547 (Preivihia), ông đi cùng xe tăng, không may xe tăng trúng mìn, đứt xích, lật nghiêng, mấy chiến sĩ trên xe bị thương, còn ông thì bị những quả đạn trong xe tăng đè lên, tưởng gãy chân. Thế mà chỉ mấy phút sau, ông đã leo lên một chiếc xe tăng khác, tiếp tục hành quân”.

Trong khi đó nhà văn Nam Hà, tác giả tiểu thuyết “Đất miền Đông”, “Trong vùng tam giác sắt” vốn là người ‘nắm rất chắc về chiến lược, chiến thuật có khi nằm trong ban chỉ huy chống càn, từng đóng góp với người chỉ huy chiến dịch những ý kiến xác đáng”.

Nhà thơ Vương Trọng kể chuyện Nam Hà viết tập truyện “Mùa rẫy” trong hoàn cảnh thực tế vô cùng khắc nghiệt, gian nan, ở giữa lằn ranh sống chết “sáu tháng liền không có lấy một hạt cơm, không có muối phải đốt cỏ gianh lấy tro, hoặc lá đu đủ giã nhỏ với ớt…Thiếu đói triền miên, toàn trai tráng mà có khi bước đi mỏi long đầu gối, không co chân nổi mà leo dốc. Có lần máy bay Mỹ rải chất độc hóa học xuống đúng khu vực đơn vị đang phát rẫy… Cả rẫy sắn nhiễm độc, lá trụi củ đen, đắng không thể ăn được…”

Còn tác giả “Nắng đồng bằng”, “Mưa đỏ” là nhà văn Chu Lai lại chọn cách đi thực tế khác xa những học viên (lớp viết văn) khác: “Anh gia nhập vào một đơn vị đặc công đến chiến trường, chân tay mặt mũi bôi đầy đất bùn, lọ nghẹ…với lựu đạn, AK báng gập, đêm bò vào tận nơi đóng quân dã chiến của đối phương”.

Nhà văn Chu Lai bộc bạch với nhà thơ Vương Trọng: “Lúc đầu nghĩ chuyện đi thực tế để lấy tư liệu sáng tác nhưng khi chứng kiến cảnh phố phường, bản làng bị tàn phá, tức thì “máu lính” nổi lên, bàn tay muốn cầm súng và lựu đạn hơn là cầm bút”.

Nhà thơ Vương Trọng từng cùng Chu Lai đi tìm hiểu để viết về một đơn vị rà phá bom mìn “Nếu ai gặp Chu Lai ở đây thì không thể biết anh là một nhà văn, nhà báo…mà là một người lính gỡ mìn thực thụ. Anh rất ghét kiểu ghi ghi, chép chép, trong khi người được hỏi thì đầm đìa mồ hôi, áo quần bê bết bùn đất…”

Nhà văn Trần Hữu Tòng, tác giả “Ngôi sao biên cương”, “Cánh rừng và hai vầng trăng”…cũng là một ví dụ tiêu biểu về thực tế sáng tác. Câu chuyện của Trần Hữu Tòng có “chất” riêng, khi nhà văn gần như phải đổi mạng sống để “sinh hạ” đứa con tinh thần của mình.

Để viết về tấm gương liệt sĩ ở Lai Châu, Trần Hữu Tòng phải đi bộ hết 14 ngày đường, đến nơi thì bị sốt rét quật ngã. Ba tháng trời sống với đồng bào Hà Nhì, khi sốt tạm ngưng, nhà văn đi thu thập tài liệu và viết. Tác phẩm hoàn thành, cơn sốt lại quật ngã ông lần nữa và bệnh viện “không dám nhận vì đang tình trạng hấp hối”.

Nhà thơ Vương Trọng viết tiếp: “May mắn thay, ông đã thoát hiểm sau một thời gian dài điều trị. Quyển sách đầu tiên ra đời trong hoàn cảnh như vậy, và chính quyển sách này góp phần không nhỏ để Liệt sĩ Trần Văn Thọ được nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Để thấy, đối với nhà văn quân đội, nhất là những người “sống, chiến đấu và viết ở chiến trường”, giá trị của từng trang viết được đo bằng máu xương của người cầm súng và cầm bút. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, những tác phẩm nóng hổi hơi thở cuộc chiến này cũng được đón nhận nồng nhiệt với lòng biết ơn sâu sắc của bạn đọc, bạn viết gần xa. Nhiều tác phẩm văn học được chuyển từ các chiến trường ra miền Bắc bằng đường thư, chuyền tay nhau mà vẫn không hề thất lạc chứng minh điều kỳ diệu đó.

Đối với nhà văn và công việc viết văn, sẽ không ai giống ai trong quá trình từ đi thực tế đến kết quả sáng tác. Nhà văn khác nhà thơ khi đến với một thực tế nào đó và giữa các nhà văn hay nhà thơ cũng luôn có cách tiếp cận thực tế khác nhau. Nhiều người biết khi đi thực tế, các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khắc Trường… thường ít ghi chép mà luôn chú trọng quan sát, nghiền ngẫm. Nhà văn lớp trước như Tô Hoài lại thường ghi chép rất tỉ mỉ. Nhà thơ Thạch Quỳ đi thực tế ở Hồ Kẻ Gỗ thì chỉ đi đến nơi rồi …về, vẫn viết bình thường vì “Kẻ Gỗ trông rất giống ở quê nên không cần biết gì thêm”.

Ai ai cũng biết mỗi tác phẩm của nhà văn không chỉ bắt đầu từ một hiện thực cụ thể nào đó, không chỉ là sao chép, mô phỏng thực tế đó, mà còn cả quá trình nhà văn sống, đọc, tham khảo, kinh nghiệm cá nhân và người khác, sự góp ý, chia sẻ của bạn bè, đồng nghiệp, để sáng tạo nên một hiện-thực-mới, vừa là chính nó vừa không chỉ là nó. Nhà văn Tô Hoài rất chí lý và có đủ cơ sở để nói rằng “Mỗi nhà văn để đạt tới một tầm vóc nào đó, phải có một thực tế nhất định. Có thực tế cũng không nhất thiết phải đi thực tế trực tiếp. Có thể tìm ở sự quan sát. Có thể tìm trong báo chí”. Nhưng vẫn luôn có một điểm chung là nếu không trực tiếp trải nghiệm, chứng kiến, là người trong cuộc thực sự như các nhà văn quân đội nói trên, như nhiều người khác thì sẽ không bao giờ có được những trang viết vừa giàu tính thực tiễn mang tầm vóc thời đại, vừa giàu tính sáng tạo và dấu ấn cá nhân cần thiết.

Vì vậy, câu chuyện thực tế sáng tác của các nhà văn cầm súng và cầm bút trong chiến tranh, qua lời kể của nhà thơ Vương Trọng vẫn luôn có giá trị đối với mỗi người cầm bút. Đó là sự dấn thân, sống hết mình của những người lính ở chiến trường, ngoài tài năng cần thiết còn phải hội đủ tinh thần chiến đấu, hy sinh và chính bản thân họ đã là những tấm gương, những tư liệu quý giá, những hiện thực trần trụi và lý tưởng để trở thành những tác giả/ nhân vật để lại dấu ấn đậm nét trong nền văn học nước nhà như cách nói của nhà thơ Vương Trọng.