Bài thơ cuối
cùng Nguyễn Bính, một “tụng ca” về quê hương đất nước, lại như là một “giao hưởng
của niềm vui”. Mượn cách trò chuyện với bạn bè thế giới, Nguyễn Bính lại có dịp
say sưa nói về quê hương đất nước mình nhưng không phải trong buồn tủi mà với
niềm vui “Đầu ngẩng cao từ cách mạng mùa thu”.
NGUYỄN
BÍNH VÀ BÀI THƠ XUÂN CUỐI CÙNG
NGUYỄN THẾ
KHOA
1.
Dưới “Bài
thơ quê hương” Nguyễn Bính ghi thời điểm sáng tác là “Tết Bính Ngọ, 1966”,
nhưng vào Tết Bính Ngọ thì nhà thơ đã không còn. Sáng 20/1/1966, tức 29 tháng
chạp Ất Tỵ (30 Tết năm đó), Nguyễn Bính đã vĩnh viễn ra đi sau một cơn thổ huyết
bất ngờ tại cầu ao nhà ông Tân Thanh, thường gọi là ông Lang Hứa, người bạn
vong niên hết sức hâm mộ thơ ông, ở thôn Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh
Hà Nam.
Theo ông
Tân Thanh thì Nguyễn Bính đã biết trước về cái chết của mình. Trong những ngày
năm cùng tháng tận tá túc tại nhà Tân Thanh, mặc dù mới 48 tuổi, Nguyễn Bính
nói với Tân Thanh rằng theo số tử vi, ông sẽ chết trong năm Ất Tỵ. Nhà văn Chu
Văn, Trưởng ty văn hóa Nam Hà, nơi Nguyễn Bính là nhân viên hợp đồng, kể rằng
khi ra Hà Nội thông báo về cái chết đột ngột của Nguyễn Bính, nhà thơ Trần Lê
Văn, vốn là bạn thân của Nguyễn Bính, đã kêu lên kinh ngạc: “Chết trước mồng một,
Bính đã lường trước từ bao giờ!”.
Trần Lê
Văn cho biết trong bài thơ “Nhạc xuân” khai bút năm Canh Thìn, 1940, Nguyễn
Bính từng viết: “Năm mới tháng giêng mồng một Tết/ Còn nguyên vẹn cả một mùa
xuân/… Giờ đây chín vạn bông trời nở/Riêng có tình ta khép lại thôi”. Vậy là từ
26 năm trước Nguyễn Bính đã tiên đoán rằng một ngày ông sẽ khép lại đời mình
trước “Năm mới tháng giêng mồng một tết”.
Chu Văn
còn nhớ, chuẩn bị cho kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du (1766-1966), ty văn hóa
Nam Hà chủ trương tạp chí xuân Bính Ngọ của Ty sẽ ra số đặc biệt về Nguyễn Du.
Nguyễn Bính, vốn xem Nguyễn Du là “tổ sư thơ” của mình, trong một đêm viết xong
bài tập Kiều cho số tạp chí ấy. Bài tập Kiều tuy đề là tặng Nguyễn Du mà sao
như Nguyễn Bính đang tự tổng kết cuộc đời thơ “nhả ngọc phun châu” quá long
đong lận đận của mình: “Trăm năm trong cõi người ta/Một thiên tuyệt bút gọi là
để sau/Khen tài nhả ngọc phun châu/Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình//… Gẫm
âu người ấy, báu này/Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”.
Sau khi
khép lại bài tập Kiều, một “riêng có tình ta” đầy tâm sự buồn về thân phận cay
đắng của những thi tài, Nguyễn Bính đã dồn hết tâm sức vào “Bài thơ quê hương”,
bài thơ cuối cùng của mình, để bài thơ này như một khúc ca vui gửi lại quê
hương đất nước…
2.
Nói về
Nguyễn Bính, nhiều người cho rằng nhà thơ được thuộc nhiều nhất của thơ Việt hiện
đại, hầu như đã kết thúc sự nghiệp thơ vĩ đại của mình từ trước cách mạng tháng
Tám sau 7 tập thơ được xuất bản chỉ trong 6 năm 1936-1942 với hàng loạt tuyệt
bút như Cô hái mơ, Những bóng người trên sân ga, Mưa xuân, Chân quê, Tương tư,
Người hàng xóm, Lòng mẹ, Truyện cổ tích, Giăng sáng vườn chè, Cô lái đò, Hành
phương Nam, Giời mưa ở Huế, Oan nghiệt, Xuân tha hương, Lỡ bước sang ngang…
Không thể
phủ nhận rằng không cần tính đến phần thơ sau 1945, Nguyễn Bính đã xứng đáng được
coi là một đỉnh cao của thơ Việt, với việc tạo nên được cả một “cõi thơ” (GS Lê
Đình Kỵ), độc đáo mang đậm hồn Việt, thể hiện khả năng kỳ diệu của tiếng Việt.
Tuy vậy, chân dung thi tài Nguyễn Bính sẽ phiến diện nếu không có phần thơ tạm
gọi là “vệ quốc và cách mạng” của ông.
Cần nhớ rằng trong số gần 20 tập thơ đã công bố của Nguyễn Bính cho tới trước ngày ông mất, có tới 9 tập thơ Nguyễn Bính viết sau cách mạng tháng Tám: “Ông lão mài gươm” (Truyện thơ 1947), “Đồng Tháp Mười” (thơ 1955), “Trả ta về” (thơ 1955), “Gửi người vợ miền Nam” (Thơ 1955), “Trong bóng cờ bay” (Truyện thơ 1957), “Nước giếng thơi” (Thơ 1957), “Tiếng trống đêm xuân” (Truyện thơ 1958), “Tình nghĩa đôi ta” (Thơ 1960), “Đêm Sao Sáng” (Thơ 1962). Đó là chưa kể tới hai vở chèo “Cô Son” (1961), “Người lái đò sông Vỵ” (1964).
Đó là những tập thơ thể hiện tinh thần
yêu nước, trách nhiệm công dân của nhà thơ trước những thử thách sống còn của đất
nước. Trong số này, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều tác phẩm chỉ là những bài
vè, diễn ca tuyên truyền cổ động nhưng cũng có không ít tác phẩm bộc lộ những
nét mới trong thi tài Nguyễn Bính, có sức sống vượt thời gian. Đó là những tác
phẩm giúp Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng dành
cho các tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời trong thời đại Hồ Chí Minh, có đóng
góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc.
3.
Có thể
nói, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đánh giá thật đúng giá trị của mảng thơ của
Nguyễn Bính trong kháng chiến chống Pháp. Sau chuyến “hành phương Nam” đầu tiên
đến Huế trong hai năm 1941-1942, Nguyễn Bính trở về Hà Nội và đến đầu năm 1943,
ông lại làm chuyến “hành phương Nam” thứ hai. Lần này, không những vào tới Sài
Gòn, Nguyễn Bính còn lặn lội về tận Rạch Giá, Hà Tiên chơi với Đông Hồ, Mộng
Tuyết, Kiên Giang, tham gia Tổng khởi nghĩa 1945 tại mảnh đất cực Nam đất nước,
rồi lấy vợ sinh con và trở thành một nhà thơ toàn tâm toàn ý của Nam Bộ kháng
chiến.
Trong hàng
trăm bài thơ phụng sự kháng chiến của Nguyễn Bính, cần kể đến truyện thơ “Ông
lão mài gươm” đầy chất tráng ca kể chuyện một ông già theo kháng chiến bị Tây
chọc mù đôi mắt vẫn đêm đêm mài gươm giúp bộ đội ta có vũ khí tốt diệt thù:
“Xóm Đông có một ông già. Đêm đêm ngồi dưới trăng ngà mài gươm”.
Cũng không
thể không nhắc đến bài thơ dài “Máu chảy trên đường phố” về cuộc biểu tình lịch
sử của học sinh sinh viên Sài Gòn – Chợ Lớn ngày 19/1/1950 với những câu thơ
ngùn ngụt yêu thương và căm hận: “Giữa Sài Gòn Chợ Lớn, giữa ban ngày/ Đem tuổi
thơ các em đi phá ngục/ Dòng máu xuân xanh/ Chói màu bất khuất/ Đường phố chuyển
mình/ Thấm sâu lòng đất/ Cả non sông rung chuyển khối căm thù”.
Bên cạnh
các bài thơ khá hay về tình cảm của quân dân Nam Bộ với Bác Hồ, về người mẹ chiến
sĩ Nam Bộ hay bài thơ về tiểu đoàn 307 nổi tiếng đã được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí
phổ nhạc thành một ca khúc bất hủ, Nguyễn Bính có hai bài thơ cần được xếp
ngang với những “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng
Cầm, “Nhớ máu” của Trần Mai Ninh, “Đèo Cả” của Hữu Loan, “Bài ca vỡ đất” của
Hoàng Trung Thông, “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu, những bài thơ được
coi là những đỉnh cao của thơ ca Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Đó là
“Đồng Tháp Mười” và “Những người của ngày mai”.
Với “Đồng
Tháp Mười”, cho tới bây giờ, vẫn là bài thơ hay nhất về vùng đất đặc biệt này của
Nam Bộ trong thơ ca Việt Nam, với những câu thơ vừa hào sảng vừa đằm thắm:
“Bưng sình hỗn loạn/ Kênh rạch ngổn ngang/ Muỗi mòng đỉa vắt/ Nước đọng bùn lầy/
Người dân quyết sống/ Quản gì đắng cay/ Tuần mưa cữ nắng đổi thay/ Vườn đơm
trái ngọt, ruộng đầy lúa thơm/ Hình thôn dáng xóm thương thương/ Hoa ô môi nở bốn
phương anh đào”.
Còn “Những
người của ngày mai” là bài thơ viết về những lãnh tụ kháng chiến trong bưng biền
Nam Bộ, những người “Ở chòi hẹp nhưng hồn chìm vũ trụ/ Trái tim đau vì thương
xót loài người”, những người “Họ là đất, họ vui lòng làm đất/ Để đắp xây nền độc
lập lâu dài/ Họ là ai? Là người của ngày mai”. Bài thơ khá hiện đại, xúc tích,
cảm hứng sử thi hòa quyện trong cảm hứng đời thường, rất mềm mại mà đầy trí tuệ.
4.
Năm 1955,
sau chuyến “Hành phương Nam” lần thứ hai kéo dài tới 12 năm, Nguyễn Bính gạt nước
mắt chia tay bà mẹ già, người vợ trẻ và đứa con thơ ở xứ dừa Bến Tre để trở về
miền Bắc với tư cách một cán bộ miền Nam tập kết. Như các nhà thơ khác, thơ ông
từ đây có hai đề tài chính: đấu tranh thống nhất đất nước và ca ngợi công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Ở mảng đề
tài đấu tranh thống nhất đất nước, Nguyễn Bính có những đóng góp lớn, để lại những
dấu ấn sâu đậm. Ngay trong năm 1955, Nguyễn Bính đã có bài thơ “Gửi người vợ miền
Nam” làm xúc động hàng triệu người đọc. Không ít độc giả, nhất là các cán bộ miền
Nam tập kết đã thuộc lòng bài thơ song thất lục bát rất dài này. Nguyễn Bính đã
đem đến cho thể thơ truyền thống tưởng không còn chỗ đứng trong thơ ca hiện đại
một sức sống mới bằng những kỷ niệm chân thật, trong trẻo, nỗi nhớ thương da diết
và một khát vọng đoàn viên mãnh liệt. Đây là những hình ảnh khó quên về người vợ,
người mẹ miền Nam “Đường công tác thuyền anh ghé bến/ Anh ngập ngừng em thẹn
quay đi/ Mẹ cười mẹ chẳng nói chi/ Đã người kháng chiến mẹ thì cho không/… Vách
lá mới tươi cờ tổ quốc/ Xuồng hành quân mát nước sông xa/ Mẹ ngồi thức mấy canh
gà /Gói thêm bánh tét gửi ra chiến trường”.
Còn đây là
giấc mơ thường trực của nhiều người Việt Nam trong những năm tháng chia cắt đau
thương ấy: “Anh sẽ đón gia đình ra Bắc/ Vợ chồng mình dạo khắp thủ đô/ Con ta
được gặp Bác Hồ/ Mẹ ta được vãn cảnh chùa Ngọc Sơn/ Xe lửa ghé nông trường Phú
Thọ/ Tàu thủy thăm vùng mỏ Quảng Yên/ Tám thơm cũng thể nàng tiên/ Sen Tây Hồ
ngát như sen Tháp Mười”.
Trong đề
tài đấu tranh thống nhất, Nguyễn Bính còn có hai bài thơ đáng được xếp vào hàng
những tuyệt bút của ông là “Đêm sao sáng” và “Xuân nhớ”. Bài thơ “Đêm sao sáng”
thì nhiều người đã biết, còn đây là những câu thơ đứt ruột trong bài “Xuân nhớ”:
“Câu thơ đứt giữa lòng trang giấy/ Mắt rượu mờ trông mái tóc thề/ Đất Bắc phải
đâu là đất khách/ Sao lòng mãi nặng mối tình quê/ Ngày muộn, mẹ già hong tóc trắng/
Khác nào mây núi đỉnh Trường Sơn/ Mẹ ơi giữ lấy vườn mai nhé/ Cho trải vàng
xuân đẹp bước con”.
5.
Ở mảng đề
tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho tới cuối năm 1965, ở khía cạnh ca ngợi trực
tiếp, Nguyễn Bính dù viết không ít, nhưng hầu hết chỉ là thơ tuyên truyền cổ động.
Ở đây, thơ Nguyễn Bính chỉ hay khi nói về những tỉnh ngộ sau những ấu trĩ về chủ
nghĩa xã hội khi nhầm tưởng “Tất cả là ánh sáng/ Tất cả là hoa hồng/…Những cái
oan Thị Kính/ Những cái dại Xúy Vân/ Chỉ còn trên sân khấu” (Thơ gửi Trần Huyền
Trân). Có lẽ, Nguyễn Bính là một trong những người đề cập sớm nhất trong thơ những
tỉnh ngộ cần thiết này.
Điều đáng
trân trọng ở nhà thơ từng phải chịu nhiều cay đắng trong tình cảnh “sông ngang
núi trái bất thường”, với “những cái dại Xúy Vân”, “những cái oan Thị Kính”, là
sau tất cả những điều đó, Nguyễn Bính vẫn giữ được những yêu tin chân thiện “Ta
vẫn là nghệ sĩ/ Ta vẫn là nhà thơ/ Nghệ thuật vẫn chung thủy/ Không chết yểu
bao giờ” (Thơ gửi Trần Huyền Trân).
Nhờ vậy,
nhà thơ dễ dàng vượt qua những khổ nạn thân phận, những uất hận riêng tư để thấy
“Đất nước qua bao trận mất còn/ Vàng son vẫn vẹn giá vàng son” (Trở về quê cũ).
Hiểu điều này, chúng ta sẽ hiểu vì sao “Bài thơ quê hương”, bài thơ cuối cùng
Nguyễn Bính, một “tụng ca” về quê hương đất nước, lại như là một “giao hưởng của
niềm vui”.
Mượn cách
trò chuyện với bạn bè thế giới, Nguyễn Bính lại có dịp say sưa nói về quê hương
đất nước mình nhưng không phải trong buồn tủi mà với niềm vui “Đầu ngẩng cao từ
cách mạng mùa thu”. Có cảm giác như Nguyễn Bính muốn nói cho thật hết, thật đủ
những niềm vui, những tự hào ông chưa kịp nói khi cảm nhận trên quê hương đất
nước, những vẻ đẹp cũ đã tìm lại được “chân giá trị”, những vẻ đẹp mới đang
hình thành: “Và lớp lớp những anh hùng xuất hiện/ Sức thanh niên: sức Phù Đổng
là đây/ Đẩy biển lùi ra, ngăn sông đứng lại/ Khẩu súng trường cũng hạ nổi máy
bay”.
Bây giờ đọc
lại “Bài thơ quê hương”, chúng ta có thể trách tác giả có vẻ tô hồng, thậm chỉ
viển vông khi gặp không ít những câu như “Đời trước thường mơ chuyện tiên, chuyện
Phật/ Chuyện thiên đường trong những cõi hư vô/ Đời nay dựng thiên đường trên mặt
đất/ Dựng mùa xuân trong tất cả bốn mùa”. Nhưng trong những năm 60 của thế kỷ
trước, đây là ước mơ, hy vọng rất thật của đại đa số người Việt Nam khi một
lòng đi theo Đảng, Bác Hồ trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
đấu tranh thống nhất hai miền, đây cũng là niềm tin của Nguyễn Bính.
Chúng ta đều
biết, cho đến ngày từ giã cuộc đời, Nguyễn Bính luôn là một con người tự do, một
nhà thơ tự do, tuyệt đối tự do, không ai có thể ép buộc ông viết những gì trái
với lương tâm, dù đó là cơm áo hay cường quyền. Từ kinh nghiệm của bản thân,
Nguyễn Bính thừa biết những gì ông viết về cuộc đời mới trong bài thơ cuối cùng
này mới chỉ là “một nửa của sự thật”, mới chỉ là ước mơ hy vọng, nhưng cần phải
nuôi ước mơ hy vọng đó như một nguồn sức mạnh to lớn giúp đất nước chiến thắng
trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do, thống nhất thiêng liêng.
Khi Nguyễn
Bính kết thúc bài thơ bằng khổ thơ nôm na: “Khi có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo/ Có
truyền thống cha ông để lại tự bao đời/ Thì đánh Mỹ nhất định là phải thắng/ Chuyện
ấy, quê tôi, thành chuyện dĩ nhiên rồi” giữa những trận bom của không quân Mỹ
đang bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại điên cuồng trên miền Bắc, thì ta hiểu
ông muốn nhắn lại những người đang sống niềm tin sắt đá này.
Nguyễn Bính đã đúng, chúng ta đã thắng Mỹ, đất nước đã độc lập tự do, hòa bình, thống nhất. Nhưng cũng phải nói, còn rất nhiều tin tưởng, hy vọng khác mà nhà thơ vĩ đại của dân tộc trao gửi trong bài thơ cuối cùng, cho đến nay, sau 60 năm ông vĩnh biệt chúng ta, vẫn chưa thực hiện được. Nhưng, đấy không phải là lỗi của Nguyễn Bính!

