Những tâm sự của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc cũng là một
cách lý giải sự ra đời của phim “Quán Kỳ Nam” mà chị là tác giả kịch bản, và
góp phần “minh oan” cho sự “chơi vơi” đáng tiếc của tác phẩm điện ảnh này khi
nó may mắn “tìm được hình thức hợp pháp để xuất hiện”…
IM LẶNG ĐẾN BAO GIỜ?
(Sau khi đọc bài “Kỳ Nam và một đất nước học
cách im lặng” của Nguyễn Thị Minh Ngọc, trên lethieunhon.vn)
MAI
AN – NGUYỄN ANH TUẤN
Theo nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc (NTMN),
“Kỳ Nam là một hình thức ký ức mà Việt Nam vẫn đang mang theo… Kỳ nam không
sinh ra khi rừng yên bình. Nó xuất hiện khi cây đã chịu thương tích kéo dài,
khi thân gỗ không còn hy vọng được phục hồi nguyên trạng. Nhựa tiết ra không để
cứu lấy cái cây như nó từng là, mà để cho phép nó tiếp tục tồn tại trong một
hình dạng khác. Việt Nam, trong thế kỷ vừa qua, đã trải qua một quá trình tương
tự. Không chỉ là chiến tranh, mà là một chuỗi dài những đứt gãy khiến ký ức
không thể chảy thẳng theo thời gian, mà buộc phải lắng lại, kết tinh, và đổi trạng
thái… Kỳ nam, trong nghĩa đó, là mùi hương của những ký ức không tìm được hình
thức hợp pháp để xuất hiện”.
Tâm sự của nữ nhà văn cao niên chắc chắn
đã/ sẽ tìm được nhiều sự đồng cảm, không chỉ trong giới cầm bút viết văn, làm
phim, cầm cọ, mà còn trong đông đảo cộng đồng người chị coi là “đồng bào” ở
cùng một đất nước của mình…
Và nỗi trăn trở buộc phải “học cách im lặng”
của NTMN tất yếu dẫn tới niềm bức xúc ẩn sâu trong lòng mỗi người lương thiện:
Cần im lặng đến bao giờ?
Con người viết Hoa từ định nghĩa của M.
Gorki cũng đã từng phải buộc Im Lặng hàng triệu lần trước cái ác, sự phi lý
không thể lý giải nổi – sau nhiều thế kỷ “Hóa thân” thành Promété chịu đựng khổ
hình mỗi ngày vì lấy cắp lửa của Thần Zơt cho đồng loại, để sau đó phải lẩn trốn
những “Vụ án” giời ơi đất hỡi rình rập song cuối cùng cũng phải “chết như một
con chó” như thân phận Giojep K, trong diễn ngôn tự sự buồn thảm của F. Kafka…
Tác phẩm có tên “Tiếng thét” thực hiện
trên bốn chất liệu của danh họa người Na Uy Edvard Munch đều vẽ: giữa bầu trời
đỏ quạch đầy mây lửa là một nhân vật tựa xác ướp ôm đầu vẻ lo sợ và tuyệt vọng
tột độ, như muốn thét lên nỗi cô đơn đến đau đớn của bản thân mình mà không sao
cất nổi tiếng thét… Đó là sự Im Lặng bị đè nén đã quá lâu, quá nặng nề mà vô
phương giải thoát, giờ đang ở trong nguy cơ sụp đổ của thế giới tâm hồn con người
trước sự khủng hoảng xã hội không thể lý giải...
Im Lặng bởi không thể hiểu, không có quyền
được hiểu những gì cần hiểu. Im Lặng bởi nhẫn nhục, bất lực. Im Lặng được giải
tỏa trong nỗi than thân thầm thì, đổ lỗi cho số mệnh của lớp người thuộc “Cọng
rơm dưới đáy ao” (Võ Văn Trực): “Con kiến mà leo cành đa/ Leo phải cành cộc leo
ra leo vào… Con vua thì lại làm vua/ Con sãi ở chùa lại quét lá đa…” Im Lặng chấp
nhận một cách cay đắng đi vào triết lý Thiền, đạo lý Buông bỏ, coi cõi đời là
sinh ký – cõi tạm mà mọi thứ đều Sắc Sắc Không Không…
Việc Im Lặng đâu cần phải học, qua nhiều
thế kỷ núi xương sông máu nó trở thành một thứ bản năng sinh tồn, là “anh em họ
hàng” của tư tưởng sùng thượng tự nhiên cùng thái độ "vô vi" (cứ thuận
theo tự nhiên mà làm) của Lão Tử - một nhân vật kỳ lạ đã giúp cho cả một dân tộc
tồn tại được trong mấy ngàn năm vật lộn với đời sống mà không có nhiều người bị
bệnh điên, bệnh thần kinh suy nhược, bệnh đứt gân máu như người phương Tây -
theo cách nói của Lâm Ngữ Đường!
Nhưng ngay cả một bậc cao tăng như Không Lộ
thiền sư lúc trên đỉnh núi cao lại càng thấy cảm giác cô đơn, lạnh lẽo và sự vô
định của con người trong cõi đời mà không thể im lặng nổi đến độ phải kêu to lên
giữa không trung: “Hữu thì trực thướng cô phong đính, Trường khiếu nhất thanh
hàn thái hư (Có lúc lên thẳng đỉnh núi bơ vơ,/ Kêu dài một tiếng, lạnh cả bầu
trời).
Nhẫn nhịn chịu đựng số phận như nàng Kiều
đáng thương phải chấp nhận "Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa" cũng
đôi lần không kìm được phẫn nộ: “Chém cha cái số hoa đào/ Cởi ra rồi lại buộc
vào như chơi!”
Nhà chí sĩ yêu nước Tăng Bạt Hổ trước cảnh:
“Nỗi diệt giống bề lo bề sợ,/ Người giống ta biết có còn không?” đã thể hiện nỗi
hận “bầm gan tím ruột” của toàn thể quốc dân ta: “Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra”
(Á Tế Á ca - Bài ca Châu Á, hay Đề tỉnh quốc dân ca - Bài ca thức tỉnh quốc
dân).
Một nhân vật đặc sắc trong tiểu thuyết “Quo
Vadis” của nhà văn Ba Lan H. Sienkiewicz (đoạt giải Nobel 1905) là Petronius, vị
cố vấn của Nero về nghệ thuật, vốn là hiện thân của tinh hoa văn hóa La Mã,
nhưng ông đã phải xưng tụng trong nhiều năm thứ nghệ thuật dở hơi của tên bạo
chúa dám đốt cháy cả thành Roma để lấy cảm hứng sáng tác. Nhưng cuối cùng
Petroniu không thể Im Lặng trong nỗi ô nhục được nữa; để bảo vệ Thi Ca và Cái Đẹp
thực sự, ông đã công khai lên án loại nghệ thuật tầm phào mà đẫm máu của Nero
và bình thản đón chờ cái chết hào hoa…
Vào thời tên đồ tể Hitler tự coi mình có “sứ
mạng thánh thần” sắp xếp lại trật tự thế giới, thì hầu hết các trí thức, văn
nghệ sĩ nổi tiếng phương Tây đều không im lặng và đều cất tiếng nói phẫn nộ và
coi đó cũng là “lạc thú của văn chương”** – đó là Walter Benjamin (Đức), Federico
García Lorca (Tây Ban Nha), George Orwell (Anh), Romain Rolland (Pháp) các nhà
văn Ý Benedetto Croce, Carlo Levi (ý), Boris Pasternak (Nga), v.v.
Trong một nạn dịch hạch hoành hành khủng
khiếp vào những năm chủ nghĩa phát-xít đang thống trị toàn châu Âu, khi sự hủy
hoại môi trường sinh thái đã trở nên nguy hại và cấp bách, nhà văn Pháp Albert
Camus đã viết tác phẩm “La Peste” (Dịch hạch); trong cuốn tiểu thuyết này, có
nhân vật luật sư Taru có thể nói điển hình cho kiểu “nhân vật thời đại không thể
im lặng trước cái ác”: sau khi nghe lời buộc tội độc ác của cha mình và chứng
kiến tòa kết tội tử hình một bị cáo, Taru đã rời bỏ cuộc sống nhung lụa và lao
vào cuộc chiến đấu chống lại sự giết người. Albert Camus đã nói rõ tư tưởng của
các nhân vật tích cực đang chống lại dịch hạch nói riêng và cái ác nói chung
như sau: “Cái ác trên đời này hầu như bao giờ cũng bắt nguồn từ sự dốt nát, và
thiện chí cũng có thể gây tổn thất như tà dâm nếu không được soi đường… và tính
xấu tồi tệ nhất là của những kẻ dốt nát nhưng lại cho là mình biết hết thảy và
lúc đó tự cho mình chém giết. Tâm hồn đứa giết người là một tâm hồn mù quáng,
và sẽ không có lòng tốt chân chính và tình yêu cao đẹp nếu không có toàn bộ
sáng suốt cần thiết.”
Sự “sáng suốt cần thiết” đó từng được nhà
báo Tiệp Khắc Julius Fucik khi “Viết dưới giá treo cổ” kêu gọi bằng cả một tập
sách: “Con người hãy sáng suốt!” – Sáng suốt để lựa chọn con đường đi, Sáng suốt
để nhận diện kẻ thù của Nhân Bản, Sáng suốt để tới lúc cần thấm thía rằng: Người
ta muốn sống được cho ra Con người Tự Do thì không thể nhẫn nhịn, không thể chịu
đựng, không thể im lặng và vô tâm mãi trước cái Ác được nữa…
Và cái thời kỳ dài dằng dặc tựa một thứ định
mệnh phải “học cách im lặng” như lời than thở của nữ nhà văn NTMN đã tới lúc cần
trở thành quá khứ…

