Nhà văn gây tranh cãi ồn ào nhất trong năm 2025 vừa qua, khi trả lời phỏng vấn của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp, đã thổ lộ: “Nếu không trải qua chiến tranh và đời bộ đội tôi sẽ không thành nhà văn. Tuy nhiên, bây giờ ngẫm lại tôi nghĩ thời gian những tháng đầu hòa bình làm công tác tử sĩ trong rừng già Tây Nguyên mới thực sự thúc đẩy tôi viết văn và định hướng cho tôi viết”.
PHỎNG VẤN
NHÀ VĂN BẢO NINH
NGUYỄN ĐĂNG
ĐIỆP
@ Thưa
ông, động lực nào khiến ông đến với văn chương sau khi rời quân ngũ? Và ngay
trong truyện ngắn đầu tiên, ông đã viết về thân phận những người lính bị lãng
quên và bị vò xé bởi chiến tranh. Liệu có phải ngay từ đầu ông đã bị hút về
“phe nước mắt’ trong cuộc chiến sinh tử mà ông đã từng trải qua trong tư cách một
người lính Bắc Việt?
Bảo
Ninh: Thưa Giáo sư
Viện trưởng. Ngày 30/4/1975, Trung đoàn chúng tôi ( E 24 F10 Mặt trận Tây
Nguyên) đánh chiếm Tân Sơn Nhất. Chúng tôi đóng ở sân bay tới hết tháng 5, bởi
vậy tôi đã chứng kiến Sài Gòn những ngày đầu giải phóng với rất nhiều ấn tượng
và cảm xúc khác nhau, thậm chí đối chọi, tác động sâu sắc tới cái nhìn của mình
về cuộc chiến. Sau đó tôi được về phép ra Bắc, gặp lại một Hà Nội vừa được hưởng
hòa bình. Quá nửa thời gian về phép gần hai tháng ấy tôi di thăm gia đình các bạn
đồng ngũ đã hy sinh ; và tiếp nhiều gia đình bộ đội cùng khu phố đến hỏi thăm
tin tức người thân của họ, mà hầu hết tôi không trả lời được vì không cùng đơn
vị . Chưa nói cả nước, chỉ riêng Hà Nội thôi cũng đã biết bao nhiêu chàng trai
cô gái ngả xuống trên muôn vạn ngả đường chiến tranh, biết bao gia đình chịu
tang tóc. Phải khi đã hòa bình rồi tôi mới thực sự thấu hết được vào tâm can
mình niềm thương đau ấy của đất nước và con người Việt Nam thời can qua binh lửa
đằng đẵng mấy chục năm trời
Hết phép,
tôi trở về đơn vị và được nhận nhiệm vụ trở lại chiến trường Tây Nguyên làm
công tác qui tập hài cốt anh em liệt sĩ (bấy giờ mới 23 tuổi nhưng tôi đã thuộc
lứa hạ sĩ quan " lính già" còn sống sót và thông thạo nhiều tử địa của
chiến trường Tây Nguyên nên cấp trên giao làm nhiệm vụ này)
Nếu không
trải qua chiến tranh và đời bộ đội tôi sẽ không thành nhà văn. Tuy nhiên, bây
giờ ngẫm lại tôi nghĩ thời gian những tháng đầu hòa bình làm công tác tử sĩ
trong rừng già Tây Nguyên mới thực sự thúc đẩy tôi viết văn và định hướng cho
tôi viết … như là đã viết.
@ “Nỗi
buồn chiến tranh”, trong bản in đầu tiên vào năm 1990 có tên là “Thân phận của
tình yêu”. Tên gọi này do ông đề nghị hay từ phía nhà xuất bản, nhất là trong bối
cảnh có thời viết về “nỗi buồn” được cho là “húy kị”?
Bảo
Ninh: Tôi học khóa
3 trường Viết văn Nguyễn Du. Học là chính nên chỉ viết đươc một số truyện ngắn
in ở Văn nghệ Quân đội. Mãi tới năm học cuối mới đăng ký với nhà trường là sẽ
viết khóa luận tốt nghiệp bằng một tiểu thuyết, đặt tên là Nỗi buồn Chiến tranh
(NBCT). Tuy nhiên, đến khi tốt nghiệp chỉ mới viết được chừng 20 trang A4 để nộp
cho các thầy trong hội đồng giám khảo: Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Vĩnh Cư, Nguyên Ngọc,
Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Lê Lựu.
Với số
trang viết quá ít lại dang dở như vậy, tưởng sẽ bị điểm rất thấp, nhưng may
thay các thầy đều cho điểm từ trung bình trở lên và nhất là đều khuyên khích rằng,
bản thảo cho thấy đây là một tác phẩm có triển vọng. Nếu không được khích lệ
như vậy chắc là sau khi tốt nghiệp tôi sẽ bỏ dở bản thảo.
Thêm phần
may mắn cho tôi là nhà văn Nguyễn Kiên, Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn, đã đọc
phần đầu nên hai năm sau khi tôi viết được gần xong bản thảo, ông đã tiếp nhận
và chuyển ngay cho nhà văn Nguyễn Phan Hách đọc biên tập. Bản thảo đã được đánh
giá tốt, thậm chí vào hè năm đó, 1990, khi bản thảo chưa thật sự được biên tập
xong tạp chí Tác Phẩm Mới của Hội Nhà văn đã lấy từ nhà xuất bản ra trích đăng,
với cái tên NBCT (Tổng biên tập Tạp chí lúc đó là nhà văn Nguyễn Đình Thi, và
phó là nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú)
Mặc dù vậy,
để in hẳn thành sách thì cái tên NBCT có “vấn đề ”. Kiểm duyệt chắc chắn sẽ
không cho phép xuất bản. Ai cũng thấy như vậy, tự tôi cũng thấy. Nhà văn Nguyễn
Phan Hách dựa theo nội dung bản thảo đưa ra cho tôi một số cái tên khác để thay
cho NBCT. Tôi chấp nhận sự thay đổi và đã chọn cái tên mà ngay chính nhà văn
Nguyễn Phan Hách cũng thấy nó quá sến, “Thân phận của tình yêu”. Nhưng, nó chỉ
là cái tên ở bìa sách, nội dung không bị thay đổi dù chỉ một chữ, nhà xuất bản
khẳng định vậy (bìa sách cũng đã được vẽ theo một phong cách rất sến, bởi càng
sến càng dễ qua cửa quan. Tuy nhiên tới lần tái bản vào năm 1992, Nhà xuất bản
Hội Nhà văn đã lấy lại tựa sách là NBCT). Sau này tôi thấy có mấy bác nhà văn
và dịch giả cũng có cách đặt tựa đề tác phẩm na ná cách của tôi với bác Hách. “Chuyện
ngõ nghèo” chẳng hạn. Hay “Chuyện ở nông trại ”… không sến nhưng vô thưởng vô
phạt.
@ Đến
thời điểm tôi đặt câu hỏi phỏng vấn ông, tranh luận về “Nỗi buồn chiến tranh”
xem ra vẫn chưa hề dứt, cho dù cả hai phía khen, chê đều thừa nhận ông là một
văn tài. Trong tư cách người viết, Bảo Ninh có phiền lòng khi một số người cho
rằng ông là kẻ đã thể hiện cái nhìn sai lệch về chiến tranh, xóa nhòa mọi ranh
giới chính-tà?
Bảo
Ninh: Viện trưởng
cho phép tôi được trả lời câu hỏi này lan man một chút.
Hồi đó, năm
1990, Nhà xuất bản của Hội nghèo lắm. Quí 4 chỉ đủ khả năng tài chánh in hai tiểu
thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của nhà văn Nguyễn Khắc Trường và “Bến
không chồng” của nhà văn Dương Hướng. Cuốn NBCT đã biên tập xong và đã chuyển
cho các nhà văn trong Ban Chấp hành và Ban sáng tác của Hội đọc, nhưng không thể
vào được kế hoạch xuất bản của năm 1991 và cả 1992 nữa, vì không có tiền, mà
tôi thì không phải hội viên.
Đã tưởng
NBCT sẽ khó lòng được xuất bản trong suốt nhiều năm sau, nhưng rất may mắn cho
tôi là không chỉ các nhà văn Nguyễn Kiên, Nguyễn Phan Hách, Vương Trí Nhàn, Lại
Nguyên Ân mà cả những nhà văn không trong Nhà xuất bản: Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải,
Vũ Cao, Nguyễn Quang Sáng, Chu Lai, Cao Tiến Lê đã ủng hộ bản thảo này . Nhờ sự
lưu tâm và ủng hộ ấy nên NBCT đã được Nhà xuất bản quyết định cho in ngoài kế
hoạch, với hoàn toàn nguồn kinh phí của nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến.
Cuốn “Thân
phận của tình yêu” được in vào những ngày cuối năm 1990 và không lâu sau đó là
một trong ba cuốn tiểu thuyết được nhận Giải thưởng năm 1991 của Hội Nhà văn Việt
Nam.
Với tôi,
Giải thưởng văn học lần đầu trong đời được nhận ấy, là một hạnh phúc còn mãi
trong lòng, cho dù rằng sau đó, như Viện trưởng thấy đấy, đủ sự “ đáng phiền
lòng ” đã đến với cuốn NBCT và với Giải thưởng đó. Thật ra, rất choáng, chứ
không chỉ là phiền lòng. Mặc dù ngày đấy Đổi Mới đã được vài năm, đã khá xa cái
thời mà thảo luận văn học rất dễ trở thành những phiên tòa, song cũng chưa phải
là đã được nới ra tương đối “ văn chương là văn chương” như thời hôm nay, thành
thử búa rìu của phê bình, nhất những phê bình luận tội, phê bình kết án vẫn rất
đáng sợ, gây nguy hiểm cho tác phẩm và khiến cho người viết thấy như mình bị đấu
tố.
Tuy nhiên
tôi nhớ là mình đã trấn tĩnh được khá nhanh. Bởi tôi luôn vững tin vào chữ
nghĩa của mình và vào hiện thực đời sống của mình. Hơn thế, tôi không đơn độc.
Tôi có thế hệ độc giả đồng đội, những bạn đọc đã trải từng chiến tranh nếu
không hơn thì cũng chẳng kém gì tôi. Nhất là tôi có các những nhà văn đồng ngũ,
tức là những nhà văn trước khi cầm bút đã thực sự cầm súng, kinh qua lửa đạn
chiến trường: Chu Lai, Cao Tiến Lê, Triệu Bôn, Phạm Hoa, Trung Trung Đỉnh.
Không phải
họ tán dương tôi, mà trái lại. Song sự phê bình của họ cho dù kịch liệt, gay gắt
và cả trái tai tôi đến mấy cũng là phê bình của thật lòng người chiến sĩ, và nhất
là, phê bình thật sự văn học.
@ Trong
“Nỗi buồn chiến tranh”, Phương được coi là gương mặt thánh thiện, tinh khôi nhất
nhưng cũng bị chà đạp khủng khiếp nhất? Khi viết về những đối cực này, ông có ý
định “khiêu khích” những thói quen của văn học đương thời, nhất là từ điểm nhìn
của một người nam về người nữ?
Bảo
Ninh: Người phụ nữ
Việt Nam trong những thời tao loạn đã được thể hiện tuyệt hay và tinh tế trong
văn học, từ xưa : Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc… Trong truyện
dân gian thì như những chuyện sự tích các hòn Vọng phu của Lạng Sơn, Thanh Hóa,
Tuy Hòa, Bình Định, Quảng Nam… Trong văn xuôi cổ thì như Mỵ Châu – Trọng Thủy,
và đặc biệt, “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Với cảm nhận của
riêng mình, tôi nghĩ đây là tác phẩm văn học đặc biệt hay về đề tài chiến tranh
nói chung và về thân phận người đàn bà thời loạn nói riêng. Đã có hồi tôi tính
viết kịch bản phim từ nội dung của cái truyện ngắn đầy ám ảnh ấy.
Trong
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì hình ảnh người phụ nữ cũng được thể hiện
rất thành công trong thơ. Có vô vàn bài thơ lay động lòng người về đề tài này,
nhân vật này. Núi Đôi, Màu tím hoa sim, Khoảng trời hố bom…
Nhưng tôi
có cảm giác văn xuôi hiện thực XHCN đã viết không đạt về nhân vật phụ nữ. Thú
thực tôi nhớ được không nhiều nhân vật nữ của nền văn xuôi khổng lồ này : Anna
Dâng trong Nắng của nhà văn Nguyễn Thế Phương ; nữ bệnh nhân trong “Một chuyện
chép ở bệnh viện” của nhà văn Bùi Đức Ái ; người đàn bà vô danh nơi góc rừng Việt
Bắc trong truyện ngắn “ Rừng đêm cuối năm ” của nhà văn Nguyễn Bản ; cô gái
nhân vật chính xưng “ tôi” trong “ Những thiên đường mù” của nhà văn Dương Thu
Hương ; “ Người đàn bà trong chuyến tàu tốc hành” của nhà văn Nguyễn Minh Châu…
Viết không
đạt về người phụ nữ có lẽ là một trong những nguyên nhân làm giảm sức sống của
văn xuôi Hiện thực XHCN về đề tài kháng chiến trong lòng độc giả, nhất là độc
giả trẻ. Chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng điều này ở sức lôi cuốn và hấp dẫn đặc
biệt của “ Nhật ký Đặng Thùy Trâm” đối với đông đảo độc giả. Liệt sĩ Đặng Thùy
Trâm không phải nhà văn, chị viết nhật ký chứ không làm văn, vậy nhưng cuốn Nhật
ký lại đã trở thành một trong những tác phẩm văn học Việt Nam về đề tài chiến
tranh và số phận con người, nhất là người phụ nữ có thể nói là có chiều sâu nhất
mà chúng ta từng được đọc.
@ Ngoài
các chủ đề chiến tranh, tình yêu và phụ nữ, “Nỗi buồn chiến tranh” còn một chủ
đề quan trọng là chủ đề nghệ thuật. Bản thân tác phẩm này là một cấu trúc khác
lạ so với văn học viết về chiến tranh trước đó. Vậy khi nói về nghệ thuật, ông
có định đưa ra thông điệp cá nhân nào, nhất là khi ở Việt Nam đã từng có những
tranh luận nảy lửa về vị nghệ thuật và vị nhân sinh kéo dài trong suốt nhiều
năm và thường được trở đi trở lại dưới những hình thức khác nhau?
Bảo
Ninh: Hiện nay, ở
tầm cao học thuật các nhà lý luân và phê bình văn học đang tranh luận với nhau
như thế nào về vấn đề mà Viện trưởng hỏi, tôi không được biết, nhưng tôi cho rằng
chẳng phải đến bây giờ mà từ xưa đến giờ, nhà văn - ngoại trừ những vị rõ ràng
là viết lăng nhăng để kiếm tiền - thì khi viết văn không hề mảy may nghĩ mình
đang “vị” cái gì, nghệ thuật hay nhân sinh. Là bởi không thể phân biệt ra như
thế, phân biệt xé đôi ra thế thì làm sao mà viết nổi và làm gì mà còn văn học.
@ Bề
ngoài, “Nỗi buồn chiến tranh” là chuỗi độc thoại miên man của Kiên với những rối
bời nhớ lại, nhưng về bản chất lại là một đối thoại, một truy vấn không ngừng.
Ông có thể chia sẻ sâu hơn về ý thức đối thoại trong tự sự của mình?
Bảo
Ninh: Đây là vấn đề
thuộc về lý luận văn học vượt quá tầm của tôi. Tôi không thể tự cắt nghĩa được.
Có lẽ điều
mà Viện trưởng nhận thấy “bản chất là một đối thoại” của NBCT là do vì từ khi
ra khỏi quân ngũ và bắt đầu đọc nhiều tác phẩm văn xuôi viết về đề tài chiến
tranh, tôi luôn âm thầm “cãi lại” các nhà văn. Chỉ có hai cuốn tiểu thuyết mà
tôi, người đọc, thấy đồng tình với tác giả: “Nắng Đồng Bằng” của nhà văn Chu
Lai và “Đất Trắng” của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh. Sự “cãi lại” đó lộ ra nhiều
trong thời gian học trường Nguyễn Du. Các thầy trong trường: Hoàng Ngọc Hiến,
Nguyên Ngọc, và các nhà văn đến giảng ở trường, gồm nhiều nhà văn hàng đầu trên
văn đàn: Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu sẵn sàng bàn luận cặn kẽ và chấp nhận đối
thoại thẳng thắn với học viên. Tôi luôn đuối lý trong những cuộc đối thoại ấy,
tuy nhiên sự đuối lý trong tranh luận lại càng thôi thúc tôi muốn viết một cái
gì đó để tiếp tục “cãi lại”.
@ Có ý
kiến cho rằng, “Nỗi buồn chiến tranh” là một tự truyện bất thành. Ông nghĩ thế
nào về dấu ấn tự truyện khi người đọc nhận thấy giữa người viết (Bảo Ninh) và
người kể (Kiên) có một số liên hệ tương đồng? Hay đó là một hình thức “giả tự
truyện” mà ông đã hình dung về nó trong quá trình thiết tạo diễn ngôn tiểu thuyết?
Bảo
Ninh: Vì có nhiều
người viết và nói rằng NBCT là tự truyện nên người thân, bạn hữu biết tôi từ bé
và nhiều bạn đồng ngũ cùng tôi chiến đấu nhiều năm đều lấy làm quái. Ngoài cái
sự tôi sống ở Hà Nội, học trường Bưởi, đi bộ đội vào Tây Nguyên… giữa tôi và
nhân vật Kiên chẳng có gì tương đồng.
Trong những
cuộc gặp gỡ độc giả, người ta cũng hay hỏi, một cách rất định lượng: có bao
nhiêu % tác giả trong nhân vật Kiên
Tôi thì
tôi nghĩ bất kỳ tác phẩm văn xuôi nào cũng có nét “tự truyện”, kể cả tiểu thuyết
và truyện ngắn lịch sử, do vì tác giả văn học không dòng nào là không phải dựa
vào “vốn sống” của mình. Vốn sống hiểu theo nghĩa hẹp nhất và rộng nhất. Cho
nên tác phẩm văn xuôi, nhất là tiểu thuyết đều là “giả tự truyện”. Tôi nghĩ vậy.
Tuy nhiên
cái vẻ ngoài “tự truyện”, dù rằng bất thành hay giả, lồ lộ đến mức đa phần độc
giả đều cho rằng thế, là một trong những nhược điểm về bút pháp của cuốn NBCT.
@ Dường
như có lần ông nói đến việc mình đã từng đọc “Phía Tây không có gì lạ” của
Erich Maria Remarque và có ấn tượng mạnh về cuốn tiểu thuyết này. Đó cũng là lý
do để có người cho rằng ông chịu ảnh hưởng tiểu thuyết gia người Đức. Nhưng khi
đọc cả hai tiểu thuyết này, tôi nghĩ không đơn giản như thế. Ông có thể nói rõ
hơn cảm nhận của ông về “Phía Tây không có gì lạ” và đâu là điểm gặp giữa ông
và Erich Maria Remarque khi viết về chiến tranh?
Bảo
Ninh: Hồi trước
chiến tranh trong gia đình tôi có tủ sách khá đồ sộ và phong phú của cha tôi,
trong đó có không ít tác phẩm văn học dịch. Văn học Đức không nhiều và chủ yếu
là của Đông Đức. Không phải của Đông Đức thì hình như chỉ có “Phía Tây không có
gì lạ” (rất lạ nhỉ, hết sức “phản chiến” vậy mà tác phẩm này đã được dịch và xuất
bản ở Miền Bắc từ năm 1960). Nhưng hồi đó còn bé nên tôi chẳng đọc tới. Cho mãi
đến 1974. Cũng tác giả ấy, Remarque, nhưng tên tác phẩm hơi khác với cuốn tôi từng
thấy trong tủ sách của cha tôi. “Mặt trận miền tây vẫn yên tĩnh”. Nhà xuất bản
Kinh Thi, 1973. Một cuốn sách lem nhem, tôi nhặt được trong chiến hào của quân
Sài Gòn tại một căn cứ pháo binh vừa bị quân ta đánh chiếm, ở bắc Công Tum. Chỉ
định nhìn lướt, xem thử “bọn chúng” đọc những cái thứ gì, mà rồi bị hút vào, và
thấy tiếc nuối, thấy bực vô cùng vì bị rách mất mấy trang cuối. Anh em cùng tiểu
đội tôi ( đều có trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông cấp ba) cũng rất mê cuốn
này, truyền tay đọc, rồi truyền trong trung đội, đại đội, tôi không lấy lại được
nữa.
Về sau,
khi đã giải ngũ, một trong những tác phẩm văn học tôi thấy cần phải lục trong tủ
sách của cha tôi để đọc ngay, là cuốn đó, đọc lại cho đầy đủ và thật kỹ. Tôi muốn
tự cắt nghĩa cho mình hiểu rằng, vì sao tác phẩm của một nhà văn Đức viết về
thân phận và đời sống chiến hào của lính Đức trong Thế chiến Một, lại hấp dẫn
tôi và các bạn tôi, những “cán binh cộng sản Bắc Việt” đến như vậy. Thêm nữa,
trước khi đến tay chúng tôi, cuốn sách đã được những độc giả là lính Việt Nam Cộng
Hòa, kẻ địch của chúng tôi, đọc đến tươm ra. Tôi không thể không hình dung rằng
trên các trang của cuốn “Mặt trận phía tây vẫn yên tĩnh” tôi lượm đọc ở Công
Tum hồi năm 1974, dấu tay của tôi, của các đồng đội tôi và các kẻ địch của tôi
đè chồng lên nhau, lẫn vào nhau.
Chính –tà
không ranh giới, sự phê phán ấy, mà người ta thường dành cho NBCT và nhiều truyện
ngắn khác của tôi, chẳng hạn Gió Dại, chắc chắn là do tôi chịu tác động sâu sắc
của cuốn tiểu thuyết đó, không chỉ bởi nội dung của nó mà còn bởi bối cảnh khi
tôi lần đầu đọc nó.
@ Ngoài
“Nỗi buồn chiến tranh”, truyện ngắn “Gió dại” là một trường hợp đặc biệt. Thậm
chí, nếu không có “Nỗi buồn chiến tranh”, tôi nghĩ, chỉ với “Gió dại”, ông đã đủ
sức trở thành một trong những nhà văn đáng chú ý nhất viết về chiến tranh Việt
Nam. Trong bản in đầu trên Cửa Việt số 16 năm 1992, đoạn kết như sau: “Chúng
tôi chỉ không ngờ rằng chúng tôi đang tiến vào mùa khô cuối cùng của cuộc chiến.
Chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa bình, vậy mà hòa bình vẫn đến.
Trên đồng cỏ, suốt mùa khô, gió thổi. Những trận gió lành và những cơn gió dại”.
Nhưng đến bản in “Bảo Ninh những truyện ngắn”, Nxb Trẻ 2013, ông đã bỏ hai câu
cuối. Việc cắt bỏ này khiến cho truyện ngắn mở hơn. Song trên một tờ báo khác,
nếu tôi nhớ không nhầm, câu “chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa
bình...” đã bị loại khỏi văn bản. Khi nhìn thấy sự thay đổi này, không chỉ tôi
mà nhiều người đều băn khoăn: tại sao lại có sự biến mất của những câu kết được
coi là “đinh” của truyện ngắn này? Là người trong cuộc, việc cắt bỏ này có can
hệ gi đến ông?
Bảo
Ninh: Tôi rất tiếc
“cốt truyện” của “Gió Dại”. Bởi khi vừa viết xong bản thảo NBCT tôi đã bắt tay
vào viết cuốn tiểu thuyết nữa, mà nội dung của nó tôi đại để hình dung nó từa tựa
cái cốt của Gió Dại. Nhưng vì vừa viết xong bản thảo NBCT nên cạn sức, nhất là
cạn nghị lực để tiếp tục ngồi lâu dài trước máy chữ, tôi thu nó lại thành một “thể
loại” không ra truyện ngắn chẳng ra tiểu thuyết, gọi đại nó là truyện vừa. Rồi
gửi qua bưu điện tới Tạp chí Cửa Việt của Tổng biên tập Hoàng Phủ Ngọc Tường và
Phó tổng Nguyễn Quang Lập. (Tạp chí văn chương nổi tiếng một thời này bị tai vạ
sau khi ra số 17, nhưng không phải do “Gió Dại” như nhiều người bảo, vì “Gió Dại”
đăng ở số 16)
Cùng số phận
với tờ Cửa Việt, “Gió Dại” được nhẹ nhàng xóa tên khỏi văn đàn chính thống. Nhẹ
nhàng xóa, nên ban đầu cũng được yên thân. Nhưng nhiều năm sau đó, đột nhiên tạp
chí văn học Granta của Anh dịch và in “Gió Dại” vào số 50 của họ. Vậy là đang
yên đang lành lại bị xới lên. Bấy giờ đã gần cuối thế kỷ XX song sự phê bình luận
tội, phê bình kết án vẫn còn rất đáng sợ. Thậm chí có những bài phê phán “Gió Dại”
khiến tôi rợn người hơn cả những phê bình nhằm vào NBCT.
Bởi vậy,
khoảng năm 2005, khi một nhà xuất bản sách tư nhân (hồi đó còn bị gọi bằng một
cái danh đầy thành kiến là đầu nậu) còn rất trẻ tuổi muốn xuất bản một tập những
truyện ngắn của tôi, trong đó có “Gió Dại”, tôi đã rất hãi. Không phải sợ cho
tôi, mà sợ cho anh ấy, sợ sự nghiệp xuất bản sách vừa mới bắt đầu của anh ấy
chưa gì đã gặp họa. Tôi muốn rút “Gió Dại” ra, song anh ấy không đồng ý. Thế
nên, tự tôi đã đổi tên truyện thành “Mùa khô cuối cùng” cho nó vô thưởng vô phạt
không ai để ý, và nhất là, tôi nhất định loại bỏ cái câu mà Viện trưởng cho là
“câu đinh” ấy đi. Tự tôi loại chứ không phải do nhà xuất bản.
Còn trong
lần xuất bản năm 2013 của Nxb Trẻ thì, do Viện trưởng nói cho biết, tôi xem lại,
thấy đúng là không có hai câu cuối của bản đã đăng trên Cửa Việt hơn 20 năm trước.
“Trên đồng cỏ, suốt mùa khô, gió thổi. Những trận gió lành và những cơn gió dại”.
Tôi nghĩ là do lỗi đánh máy thôi. Bởi Nxb vẫn giữ “câu đinh” mà, còn hai câu cuối
đó thì chỉ là những cơn gió.
@ Bên cạnh
chủ đề chiến tranh, ông là người khá thành công về đời sống đương đại. Chẳng hạn
Lan man trong lúc kẹt xe, Bội phản... Liệu giữa những “nan quạt” này, có mối
liên hệ nào trong quan sát của Bảo Ninh về đời sống nhân sinh. Chẳng hạn nỗi
hoài nghi? Và sự thất vọng?
Bảo
Ninh: Tôi sinh năm
1952. Tuổi ta đã 69 rồi. Suốt từng bấy năm, ngoài gần 7 năm đi bộ đội (1969-
1976), tôi chỉ sống ở Hà Nội, đời thị dân. Thế sự, thời cuộc, tôi không biết
rành hơn nhưng chắc cũng không quá kém người. Và cũng như tất cả những người
cùng thế hệ, tôi đã chứng kiến và đã trải qua gần 70 năm những đổi thay bể dâu
của đất nước . Đến ngay như Chủ nghĩa Xã hội là cái lẽ lớn nhất, nội dung cơ bản
nhất, cốt lõi nhất làm nên cái thời đại mà đời tôi đã lọt gọn vào, cũng đã đổi
thay trời vực. Sự khác nhau giữa Chủ nghĩa Xa hội thời “chào 61 đỉnh cao muôn
trượng”, khi tôi còn nhỏ, với Chủ nghĩa Xã hội kinh tế thị trường thời nay, dẫn
tới sự đổi thay bể dâu trong lòng người, thật đáng là đề tài cho một cuốn tiểu
thuyết. Cố nhiên tôi không tài nào viết nổi một cuốn như vậy, song lại vẫn thường
nghĩ tới, vì thế thỉnh thoảng lại viết một truyện ngắn, một bài ký về sự đời biến
cải bãi bể nương dâu mà mình trải qua.
@ Văn Bảo
Ninh dường như rất ít vui. Toàn buồn. Đúng hơn, đó là nỗi buồn ăn sâu vào bản
thể, ứa máu trong cõi hoang tưởng, mộng du. Nghĩa là dường như ông không bị cuốn
vào lối viết giễu nhại thời thượng. Đây hẳn là một lựa chọn về lối viết. Hay đó
là biểu hiện của cái gọi là “người làm sao văn chiêm bao làm vậy”?
Bảo
Ninh: Tôi không biết
trả lời câu hỏi thế nào, vì người viết sao có thể tự phân tích nổi điều mình viết.
Nhưng dường như câu hỏi của Viện trưởng, Viện trưởng đã tự trả lời, bằng câu cuối
“người làm sao chiêm bao làm vậy”.
@ Nhiều
người nhận xét văn Bảo Ninh đẹp, giàu chất thơ. Nhưng cũng có người coi sự chậm
rãi trong tự sự của Bảo Ninh là một hạn chế. Tôi lại cho rằng, sự chậm rãi và
sâu thẳm chính là một trong những nhân tố cơ bản làm nên “văn hiệu” Bảo Ninh.
Không rõ nhận xét của tôi có phù hợp với chủ đích thuật kể của ông trong các
sáng tác của mình?
Bảo
Ninh: Có một thời
tôi được nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tin cẩn giao nhiệm vụ biên tập truyện ngắn
cho tờ báo Văn Nghệ Trẻ (hồi đấy là một tờ báo văn học rất có danh tiếng).
Nhưng chỉ làm được chừng chục số thì tôi phải xin thôi công việc ấy. Là bởi tôi
đã gạt bỏ nhiều bản thảo mà không ít trong số đó tác giả đưa sang báo khác lại
được in, thậm chí được đánh giá cao.
Duyên do
là vì tôi bị cái tật chỉ đọc trang đầu bản thảo để coi xem tác giả “có văn”
không đã rồi mới đọc tiếp, nếu không thì gạt, bất kể nội dung truyện. Nhưng thế
nào là “có văn” thì tôi không giải thích được, cả không tự cắt nghĩa được,
nghĩa là rất cảm tính cá nhân, mà lại là cảm tính lỗi thời.
Chẳng hạn,
là người biên tập, nhưng tôi rất khó chịu với những trang văn khó hiểu ; tôi định
kiến rằng câu chữ khó hiểu khó đọc thường là do sự lười biếng, hoặc là nửa vô
tình nửa hữu ý viết khó để nhằm che đậy sự yếu kém về nội dung. Viết khó đọc
khó hiểu dường như giúp tác giả bao biện cho cái sự thật rằng anh ta hay chị ta
chẳng có gì để viết.
Gần như
ngược lại, tôi rất cảm tình với những bản thảo có văn phong giản di, và tất
nhiên, giản dị nên dễ hiểu. Viết giản dị dễ đọc hoàn toàn khác với dễ dàng và dễ
dãi. Viết giản di dễ đọc đòi hỏi nhà văn phải yêu quí và trân trọng vô cùng
ngôn ngữ mẹ đẻ, phải tinh thông văn phạm và cực kỳ giàu vốn từ, và phải viết
lách rất kỳ công câu chữ. Lại cũng phải rất tự tin nữa, để vượt lên khỏi thói
thường thiên hạ vẫn cho rằng văn chương khó hiểu khó đọc đồng nghĩa với giàu
trí tuệ và tài năng cao.
@ Ông
có thể bật mí thêm một chút về gen văn chương mà ông thừa hưởng từ gia đình, nhất
là khi ai cũng biết thân phụ ông là một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng của Việt Nam?
Bảo
Ninh: Tôi cũng như
hầu hết những người cùng thế hệ kháng chiến chống Mỹ đã thực sự sống cuộc đời nối
bước con đường đời của thế hệ cha anh, thệ hệ đã làm nên Cách mạng Tháng Tám và
tiến hành cuộc Kháng chiến trường kỳ đánh đuổi thực dân Pháp. Tình cảm lớn nhất
của một con người là lòng yêu nước mà thế hệ chúng tôi có được trong máu thịt của
mình đã được truyền trực tiếp và trước nhất từ ông bà cha mẹ, từ gia đình, từ
dòng họ. Bản tính Việt, văn hóa Việt cũng vậy, là cha truyền con nối, không có
sự đứt gãy, thậm chí xung khắc thế hệ như thường thấy thời nay.
Cha tôi,
giáo sư Hoàng Tuệ, như hầu hết những người trí thức cùng thời, tuổi trẻ học
hành hoàn toàn trong thời Pháp thuộc nên tinh thông tiếng Pháp và am hiểu văn
hóa - văn học Pháp ; ông cũng thạo chữ Hán và chữ Nôm do được cụ cố tôi và ông
nội tôi là Nho sĩ truyền dạy. Vậy nhưng, rất lạ, giới trí thức thời cha tôi
không vì Tây học mà phai nhạt cội nguồn, trái lại, họ tuyệt vời giỏi tiếng Việt:
tiếng Việt của đời sống phổ thông thường nhật; tiếng Việt của đời sống tinh hoa;
tiếng Việt nôm na cổ xưa và tiếng Việt tân tiến của đời sống hiện đại.
Tôi cảm tưởng
rằng người trí thức thời đấy giỏi ngôn ngữ mẹ đẻ hơn hẳn trí thức thời tôi và
thời nay. Cứ đọc các nhà văn thì thấy. Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân,
Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Kim Lân... thật là những bậc thầy về sử dụng tiếng Việt
trong văn tả, văn kể, văn nói, văn đối thoại, văn tự sự. Chính nhờ những nhà
trí thức, những nhà văn thời đấy mà chúng ta có được tiếng Việt hiện đại thời
nay; tuy nhiên, tôi tự hỏi, liệu có mấy nhà văn hiện đại thời nay đạt được tầm
cỡ "bậc thầy tiếng Việt" của các tác giả thời đó, cách đây đã nửa thế
kỷ.
Đối với một
nhà văn Việt Nam thì tính yêu đất nước được thể hiện trước nhất và cụ thể nhất ở
tình yêu Tiếng Việt. Trong công việc viết văn của mình, tôi thấm nhuần lời
khuyên thầm lặng ấy của cha tôi.
@ Tôi vẫn
băn khoăn, viết về phụ nữ một cách tinh tế như ông, vậy ngoài đời, Bảo Ninh đã
yêu thế nào nhỉ? Liệu ông đã từng đắm đuối, khốn khổ như Kiên từng say đắm
Phương?
Bảo Ninh: Tôi
nghĩ có một “nghịch lý” như thế này ở hầu hết những người viết văn khi họ cầm
bút lên viết. Bởi chất chứa trong lòng những nỗi niềm sâu kín và thậm chí cả
đáng ngại không thể nói ra được với bất kỳ ai, kể cả người thân thiết nhất, thế
nên anh ta quyết định viết, kể, thổ lộ hết những tâm tư bí mật ấy ra với đông đảo
những người hoàn toàn xa lạ, tức là công chúng độc giả ; nếu có ai đấy muốn tìm
hiểu đích xác những riêng tư chân thực nhất mà kín bưng nhất ấy của nhà văn thì
nhà văn sẽ chỉ có thể tặng người đấy những tác phẩm do anh ta tưởng tượng và hư
cấu ra để viết nên.
@ Tôi
nhớ, một nhà văn danh tiếng ở Việt Nam đương đại là Nguyễn Huy Thiệp hay nói đến
chữ Thời. Cập thời vũ Nguyễn Huy Thiệp. Còn Bảo Ninh,ông nghĩ sao về chữ Thời
trong ứng xử nghệ thuật của mình? Và trong số những nhà văn mà ông đã từng đọc,
ai là người để lại cho ông ấn tượng sâu sắc hơn cả?
Bảo
Ninh: Từ sau ngày
giải ngũ, tôi đọc rất nhiều. Nhờ tủ sách của cha tôi mà tôi được đọc nhiều tác
phẩm trước 1945 của: Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,
Kim Lân, Nam Cao, với cả của những tác giả mà khi đó, trước Đổi Mới, còn bị cấm
đoán : Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp, Nhất Linh, Thạch
Lam, Khái Hưng… Chẳng có lý luận và lập trường để phân biệt được ra đâu là Hiện
thực phê phán hay đâu Lãng mạn, tôi chỉ biết đấy là những tác giả tác phẩm văn
xuôi xuất bản từ khoảng 1930 đến 1945, và đều hay, hoặc tuyệt hay.
Thật đáng
kinh ngạc. Chữ quốc ngữ vừa mới tương đối phổ cập trong đời sống đất nước từ đầu
thế kỷ XX. Tiểu thuyết Tố Tâm còn gần như hoàn toàn là văn chương biền ngẫu, vừa
xuất bản năm 1925. Vậy mà chưa đầy mười năm sau đã đột khởi lên một nền văn
xuôi lớn đến vậy, hiện đại và tài năng đến vậy. Làm thế nào mà văn học nước
mình lại bất ngờ rực sáng lên như vậy trong giai đoạn ngắn ngủi mười lăm năm
30-45 ấy? Sao mà cùng một lúc trên văn đàn lại có thể xuất hiện nhiều tài năng
văn học đến như vậy? Tôi nghĩ đấy là do chính cái mà Giáo sư nói tới: do "thời".
Văn học đất nước may mắn được trời cho một cái " thời " vàng son như
vậy, không thể cắt nghĩa được bằng thế sự, bằng chính trị.
Thời ấy
qua đi, không bao giờ trở lại, mặc dù hầu hết các nhà văn của thời vàng son ấy
của văn xuôi Việt vẫn còn đó và vẫn còn viết. Có cảm giác rằng sau đấy, bao
nhiêu năm sau đấy, nhiều thế hệ độc giả văn học Việt " nín thử" chờ đợi
một Thời như thế, hoặc tương tự như thế, sẽ đến. Bao nhiêu năm ròng, chờ đợi
mãi, rồi mới tới thời Đổi Mới, và mới xuất hiện Nguyễn Huy Thiệp.
Nhờ thời,
tức là nhờ thời Đổi Mới, Nguyễn Huy Thiệp mới có thể viết được và xuất hiện được
một cách ngời sáng như vậy, mặt khác với sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp mà chúng ta mới thực sự bắt đầu có được thời Đổi Mới trong văn học.
@ Khi “Nỗi
buồn chiến tranh” được một số học giả nước ngoài đánh giá cao, coi đó là tiểu
thuyết kinh điển về chiến tranh, tôi thấy ông vẫn ấp úng và lặng lẽ trước đông
người. Lặng lẽ ngay cả khi nhiều người sốt ruột chờ đợi một quyển tiểu thuyết mới
từ nhà văn mà họ thực lòng yêu quý (dù mới đây ông đã cho in vài đoạn nhỏ trên
Viết và Đọc do Nguyễn Quang Thiều khởi xướng). Đó là một vinh quang nhưng cũng
là một áp lực. Ông sẽ giải quyết áp lực này ra sao, khi bên cạnh ly Whisky và
điếu thuốc, ông vẫn chừa hề có ý định dừng bút?
Bảo
Ninh: Một nhà văn
lớn, hình như M. Kundera đã viết, tôi nhớ đại ý thế này, nhà văn không phải là
một tay làm chính trị, không phải một nhà lý luận, không phải một nhà tâm lý học,
không phải một nhà báo, không phải là ông thầy giáo, không phải nhà rao giảng đạo
đức, không phải nhà hùng biện, nhà văn chỉ là nhà văn, và anh ta chỉ có mỗi việc
viết, viết truyện ngắn để nói những điều chỉ có thể thể hiện bằng truyện ngắn,
viết tiểu thuyết để thể hiện những điều chỉ có thể thể hiện bằng tiểu thuyết...
Viết văn là một công việc đơn độc, thầm lặng và rất nặng nhọc, lại thường là không được như ý. Cũng khá là nguy hiểm nữa. Vậy nhưng, như mọi nghề khác thôi, nghề viết cũng đầy lôi cuốn và giàu niềm vui, khiến người ta theo đuổi suốt đời không biết chán, biết mệt, không muốn về hưu.

