Thơ Thy Nguyên buồn đau, chua xót nhưng không mềm yếu. Thơ chị là tiếng nói người đàn bà đủ buồn, đủ đau, nhưng cũng đủ trầm tĩnh để đi qua những sóng gió cuộc đời.
Thy Nguyên tên thật là Phạm Thúy Nga, sinh năm 1981 tại Hải Phòng, công tác trong ngành di truyền học, hiện đang làm Trưởng phòng thu mẫu giám định ADN tại Hải Phòng. Tác phẩm chính đã xuất bản: "Sân người" (thơ, 2010), "Cầm mưa" (thơ, 2013), "Phố đông người" (thơ, 2014), "Ga nổi" (thơ, 2015), "Đời đá" (trường ca, 2017), "Người dưng" (thơ, 2019), "Gửi" (trường ca, 2021), "Phố vợ cũ" (thơ, 2023), "Phía biển" (trường ca, 2025), "Mạch sống" (trường ca, 2025)…
Tôi gặp
Thy Nguyên lần đầu trong một cuộc vui bên hồ Đại Lải tại nhà anh Tiến Thanh. Chị
tặng tôi "Phố vợ cũ", tập thơ mới nhất của chị khi ấy. Trái với sự
chuẩn bị ban đầu của tôi về một cuộc "chạm trán với Hải Phòng"
(ngông, bạt, cá tính hay cái gì, tương tự thế), Thy Nguyên dường như là một bản
thể khác, tôi đọc thấy ẩn sâu phía sau con người ngỡ là sâu lắng ấy là những
con sóng dữ dội không nguôi vỗ vào thơ, vào cuộc đời.
Sau những
khoảng lặng ồn ào, chị lặng lẽ bên hồ thả hồn theo làn sương mỏng và khói thuốc.
Lâu lắm, tôi mới thấy hình ảnh một phụ nữ trầm mặc mà thảnh thơi như thế. Nào
có biết đâu, "người thơ phong vận", định mệnh như kiếm sắc, đằng sau
một Thy Nguyên an nhiên, lại là một Thy Nguyên "nửa hồn thương đau" ấy.
Thơ Thy
Nguyên đa dạng, song thể hiện sâu sắc và tập trung hơn những căn mệnh và chiều
kích tâm tư người nữ. Ở Thy Nguyên, sự tinh tế, mẫn cảm đến xót xa dường như
luôn hiện diện như một mã gen ngầm trong tâm hồn người con gái tự thuở xa xưa:
"Em thiếu cha. Tuổi thơ nhòe hoa dại/ Nhẩn nha lời ru áp ngực Mẹ mà
no/Lênh khênh bèo dâu, tập tênh hoa gạo/ Tháng Ba võ vàng, run run mưa xuân"
(Lời ru tháng ba); "Bố đừng buồn những hoàng hôn đổ gãy/ Những cành non đời
dập vùi cát bỏng/ Sáng nay vàng xưa ruộm ngõ/ Qua vườn nhà, qua ngõ tắt hanh
hao" (Bố ốm)…
Nhưng nhân
vật trữ tình trong thơ Thy Nguyên chủ yếu xuất hiện trong bản mệnh đa đoan,
trong những vùng đau thiếu phụ: "Trăng lạnh thế/ Và mưa già thế/ Chỉ hàng
cây cúi lặng bên đường/ Và cỏ nữa díu dan ngày em hạnh/ Chưa một lần dự cảm đa
đoan" (Trăng lạnh & mưa già); "Hải Phòng có phố vợ cũ anh biết
chưa?/ Nắng cứ mềm uống những lần em khóc/ Trăm hiu hắt đuổi nhau thành mưa
móc/ Phố gối đầu lên sóng tắm ba mươi" (Phố vợ cũ); và trong những cung bậc
khác nhau của "tiếng Kiều": "Em là ai mà nhỡ chục nẻo đường/ Tai
dửng dưng nghe đời lô xô vỡ… Em là ai?/ Là ai?/ Là ai?/ Chừng như tiếng con gọi
cửa/ Lại lắp tiếng mình và ngồi dậy tô son…" (Tự vấn).
Thơ Thy
Nguyên buồn đau, chua xót nhưng không mềm yếu. Thơ chị là tiếng nói người đàn
bà đủ buồn, đủ đau, nhưng cũng đủ trầm tĩnh để đi qua những sóng gió cuộc đời.
Trong
không gian văn chương đương đại, Thy Nguyên là một trong số các tác giả tài
năng và giàu nội lực sáng tạo bậc nhất thuộc thế hệ 8x. Bàn về thơ Thy Nguyên,
có lẽ cần một câu chuyện dài. Bài viết này chỉ nói đến hai điều đặc biệt của chị.
Một là, Thy Nguyên là một trong số rất ít các nhà thơ trẻ đương thời viết trường
ca. Và hai, khi viết trường ca, chị đề cập một vấn đề loại biệt: "câu chuyện
nhà văn", chính xác hơn là, những trăn trở, dằn vặt về vị trí, vai trò và
sứ mệnh của nhà văn trong văn chương.
Ai nấy đều
biết, trường ca là một "thể loại khó", khó viết, khó hay, khó giúp
nhà văn đạt thành tựu bởi những yêu cầu, đòi hỏi đặc thù. Trường ca tự sự giờ hầu
như không ai viết. Trường ca trữ tình quả là thách đố, bởi nó hoàn toàn khác với
việc viết một bài thơ. Nếu trường ca chỉ là một bài thơ trữ tình kéo dài, nó rất
dễ rơi vào tình trạng lảm nhảm, và nhàm tẻ.
Trong bối
cảnh đương đại, trường ca cũng được xếp vào thể loại "khó đọc", ít nhận
được sự quan tâm của bạn đọc phổ thông. Tiếp cận từ góc nhìn này, thấy bản thân
việc dấn thân vào trường ca của nhà thơ trẻ, đã được coi là dũng cảm. Nhưng trường
ca cũng là một thể loại mang tính "đai đẳng", gọi mời, một chỉ dấu
quan trọng khẳng định tài năng nghệ sĩ.
Khác với
trường ca cổ điển, trường ca hiện đại có xu hướng trữ tình. Thay vì kể một câu
chuyện, nó nghiêng về mạch cảm xúc, suy tư. Tuy nhiên, suy tư đó không thể thuần
túy trữ tình, mà thường có một "khung chuyện" để tạo sườn.
"Gửi"
của Thy Nguyên chọn "câu chuyện" đặc biệt: câu chuyện nhà văn. Xin
nói ngay, nhân vật nhà văn với tất cả tính chất xã hội - thẩm mỹ riêng có của
nó, từ lâu đã trở thành một kiểu nhân vật đặc thù trong lịch sử văn chương, đặc
biệt là trong văn chương hiện đại. Nhà văn là ai, anh ta có thân phận và địa vị
thế nào? Văn chương được làm ra như thế nào và để làm gì? Chừng đó thôi cũng đủ
gợi sự tò mò và mời gọi độc giả, đặc biệt là khi văn chương tự ý thức, tự suy
tư được về thiên chức của mình.
Chọn kiểu
giao tiếp trường ca, Thy Nguyên không hình tượng hóa nhà văn như một kiểu nhân
vật với chiều hướng đường đời cụ thể, mà là một suy tư đậm chất trữ tình. Ở
đây, Thy Nguyên không thi vị hóa mà chọn cách đối diện và đối thoại với nhà
văn.
"Gửi"
được chia làm 36 khúc, tuy mỏng về dung lượng (94 trang) nhưng giàu sức nặng cảm
xúc và suy tưởng. Đọc "Gửi" của Thy Nguyên, có thể nhận ra, chủ đề lớn
nhất, trở đi trở lại trong đây là câu hỏi "nhà văn, anh là ai". Để rồi,
từ câu hỏi ấy, các vấn đề cấu trúc bản thể nhà văn và quá trình sáng tạo văn
chương lần lượt được phơi mở, giãi bày.
Với Thy
Nguyên, nhà văn trước hết phải là người sống tận cùng với cảm xúc và lựa chọn của
mình, anh ta là người mang ngọn lửa Prometheus để tận hiến cho đời: "Người
họa sĩ chọn cái chết trên toan/ Anh nếu là nhà văn, hãy một lần viết như chú ngựa
già thổ huyết trên sa mạc đời mình…" (Mở); "Nhà văn/ Anh là ai/ Anh đến
từ đâu/ Anh đang đi về đâu/ Hãy kêu tiếng kêu của ngọn đuốc/ Cháy một đời rừng/
Chảy một đời sông/ Cho tôi… được khóc" (Khúc 13).
Thy Nguyên
tâm niệm, bản mệnh của nhà văn là năng lực thấu cảm với nỗi đau của tha nhân,
nhà văn là kẻ biết "vo cơn đau vào xác chữ", anh không được phép bội
tín chân mệnh của mình: "Nhà văn/ Anh cầm bút đừng chĩa vào chính mình/ Guồng
máy khô dầu chững lại…/ Nhà văn/ Anh tôn cao chiếc gối anh nằm/ Anh vo cơn đau
vào xác chữ/ Anh nằm thả những mê đắm xuống dòng sông cuộn xiết/ Tự nhận về
mình gã du mục thượng nguồn" (Khúc 1).
Viết về
nhà văn và nghề văn, Thy Nguyên không lên gân, kêu gọi, mà chủ yếu là sự trăn
trở với người cầm bút, với chính mình. Nhà văn sẽ là gì, nếu anh ta không
"đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy mọi vang động của cuộc đời":
"Tôi nghe thấy tiếng giãy giụa/ Từ trăm nghìn dự án ngụy trang/ Dự án xem
dân như máy đẻ tiền/ Dự án chết đi trong vùng tối cấm" (Khúc 12).
Với Thy
Nguyên, sáng tạo trước hết là không lặp lại chính mình. Sáng tạo cũng đồng
nghĩa với thức tỉnh. Nhà văn là người phải biết làm thức dậy những khúc quanh của
lịch sử, nỗi đau quá khứ, những ẩn khuất của lòng người: "Nhà văn/ Con ngõ
tối, sáng đèn góc chợ/ Người lái buôn gặm chiến mã sắt/ Gệch đầu cuốn chiếu/
Đôi mắt đứa trẻ mồ côi thiếu mẹ/ Ngủ phục bên hè/ Ước mơ chúng bay nhảy/ Về
cánh rừng cỏ ngọt/ Anh có biết không?" (Khúc 2); "Vị Xuyên/ Bốn mươi
năm sau mẹ già tìm con mê mải/ Khóc rụng sim biên giới/ Khóc bạc trắng ngàn
lau/ Không ai gọi tên sự thật/ Không ai ôm sự thật" (Khúc 3).
Với điệp
khúc "Anh đứng đã đứng ở đâu?", "Anh có biết không?",
"Anh có muốn nói gì không?", "Anh đã viết gì?", "Tôi
biết"…, có thể nói, Thy Nguyên đã làm một cuộc tổng duyệt nhà văn, trong
đó không loại trừ việc tra vấn, phơi bày "mặt trái" của anh ta - những
đớn hèn, nịnh bợ, sáo rỗng, ngoa ngôn, điêu trá. Đây cũng là điều Thy Nguyên
day trở, vân vi nhiều nhất.
Đây đó,
nhà thơ không giấu được những cắn rứt, chua xót, ê chề: "Nhà văn/ Anh/
Tôi/ Và chúng ta/ Dự lễ hội mặt nạ/ Lễ hội bưng nhau/ Lễ hội những kẻ hèn/ Lễ hội
của những kẻ nghèo mất cắp giấc mơ/ Anh thấy rõ mình không?" (Khúc 8)…
Nhưng Thy Nguyên không nói về điều này như một khách thể, mà như một lời tự thú
bên trong của kẻ đồng sàng: "Tôi thấy tôi hèn nhát/ Tôi thấy tôi bất lực/
Tôi thấy tôi đang gục giữa pháp trường/ Giương mắt/ Mở mày/ Chết đứng…"
(Khúc 13).
"Mỗi
phạn bất vong duy trúc bạch/ Lập thân tối hạ thị văn chương" (Mỗi bữa
không quên ghi thẻ trúc/ Lập thân thấp nhất ấy văn chương). Đọc "Gửi"
của Thy Nguyên, thấy thấp thoáng những suy tư (ngậm ngùi) về thân phận của nhà
văn. Nhiều khi cao cả vinh quang đâu chẳng thấy, chỉ thấy phận mỏng cánh chuồn,
đau đớn, bất lực, hư hao, như những ngọn gió: "Chúng ta như tầm gửi mọc
trên đá/ Bơ vơ trong thiên hà quyến thuộc/ Bơ vơ ngõ kẻ sĩ/ Bơ vơ bậc thềm liêm
sỉ" (Khúc 21).
Thy Nguyên
cho bản mệnh nhà văn là phải viết (nói như Nguyễn Huy Thiệp, "nhà văn sinh
ra là để viết, viết cho hay, có thế thôi"). Và khi viết, hãy viết bằng
trái tim chân thật và ngọn lửa bùng cháy, cho dù cái viết đó như những ngọn gió
mong manh, như tiếng kinh cầu bên vực thẳm: "Hãy viết bằng ngọn lửa/ Trải
cô độc mình bằng ngọn lửa/ Hãy biến lời anh thành ngọn lửa/ Thiêu cháy những hỗn
mang" (Khúc 6).
"Gửi"
là trường ca dồi dào cảm xúc và suy tưởng, mang tính thời sự về nhà văn và sứ mệnh
của văn chương. "Gửi" hàm chứa nhiều sáng tạo thi ảnh độc đáo, được
trình bày trong một giọng văn khoáng đạt, đậm chất trữ tình, khi dồn dập, khi
nhẫn nại, trầm tĩnh, đôi khi chen lấn sắc thái bi ca. "Gửi" là tiếng
nói hiếm hoi và giàu sức nặng, một cuộc đối thoại dũng cảm của nhà văn về chính
mình và những kẻ mang danh phận nhà văn trong xã hội đương đại. Nó là một tuyên
ngôn "văn chương và hành động" vừa dữ dội, day dứt, lay động vừa đậm
tính thơ.
PHÙNG
GIA THẾ
Nguồn: Văn Nghệ Công An

