Nhà văn Nhật Bản Kawabata Yasunari đoạt giải Nobel văn học năm 1968, cho rằng: "Những nhà văn gọi là tân tiến là những người đã tìm gặp và “kết hôn” được với những tình cảm tươi mới. Hơn nữa, có người còn kết hôn cả với cuộc sống mới. Thế nên cùng với những người chồng đó, họ sẽ bắt đầu sinh sản ra những hình thức văn nghệ mới"


KHUYNH HƯỚNG CỦA CÁC NHÀ VĂN TÂN TIẾN

KAWABATA YASUNARI

Sự bùng nổ của một nền văn nghệ mới

Ngày nay, đối với tất cả những người có quan tâm đến văn nghệ, thì mục tiêu họ phải chú ý đến trước tiên là các nhà văn tân tiến, đúng hơn, cái “tính cách mới mẻ” mà những nhà văn này mang đến. Việc tìm hiểu tính cách mới mẻ là rất cần thiết vì ta sẽ có được chiếc chìa khóa để mở cửa bước vào vương quốc văn nghệ của một thời đại mới, cũng như chiếc vé duy nhất cho chuyến lữ hành ấy. Những ai không có nó thì dù họ là người sáng tác hay người thưởng ngoạn, đều sẽ bị cự tuyệt khi muốn bước vào giới văn nghệ của ngày mai.

Bà nội, bà ngoại không thể sinh ra cháu. Muốn sinh cháu cần phải có mẹ. Đứa trẻ mà người bà gọi là con cũng là người mà đứa con gọi là mẹ. Cũng vậy, những người sẽ sống trong thế giới văn nghệ của tương lai xin đừng nhìn bà của mình thôi mà phải biết mẹ mình là ai. Kẻ kiến tạo nên nền văn nghệ của thời đại sắp đến nghĩa là người sẽ trở thành mẹ, chính là những nhà văn tân tiến của ngày nay. Những ai chậm chạp, không hiểu kịp những nhà văn tân tiến hiện tại là những đứa cháu do người bà sinh ra. Chẳng bao lâu nữa, chắc họ sẽ phải nếm trải vị cay đắng của những nỗ lực hoài công vô ích.

Những nhà văn gọi là tân tiến là những người đã tìm gặp và “kết hôn” được với những tình cảm tươi mới. Hơn nữa, có người còn kết hôn cả với cuộc sống mới. Thế nên cùng với những người chồng đó, họ sẽ bắt đầu sinh sản ra những hình thức văn nghệ mới. Thời đại của những người mẹ mới, nhờ đó sẽ có thể nở ra những đóa hoa tươi sáng. Hoa của ngày hôm qua dẫu đẹp đến đâu thì vẻ đẹp đó cũng đã được ta biết đến rồi. Thế nhưng đóa hoa vừa nở trước mắt ta buổi sáng hôm nay mới thực sự tươi tắn và ta cảm thấy mình có lí do để kéo dài cuộc đời cho đến sáng hôm nay. Nếu như sáng hôm nay, ta vẫn còn nhìn những đóa hoa của hôm qua thì chẳng phải ta đã chết từ hôm qua rồi hay không?

Vấn đề xảy ra giữa các nhà văn thành danh và các nhà văn tân tiến, dù muốn dù không, cũng đã trở thành vấn đề chính của giới văn nghệ trong năm Taisho thứ 13 (1924). Nhìn thử mà xem! Hai chữ “kí thành” (đã thành danh) và “kí tri” (được biết tới) thường bắt tay nhau một cách đáng buồn. Nếu đổi cách nói thì “vị thành” (chưa có tiếng tăm) và “vị tri” (chưa được biết tới) cũng bắt tay nhau đấy nhưng đó lại là điều đáng vui mừng. Vì hai chữ “vị” kia, chỉ cần chừng đó thôi, đối với bất kì ai, đều toát ra một sức hấp dẫn không kể xiết.

Mắt chúng ta đã long lanh khi muốn biết “vị tri” này là cái gì. Chúng ta kể cho nhau nghe niềm vui tìm được một cái gì mới mẻ như thể gửi lời chào đến một người đồng chí. Thế nhưng, nếu một người nói “Xin chào” và người kia cũng đáp lại bạn bằng “Xin chào” thì hơi tẻ nhạt. Loại văn nghệ không hề thay đổi sẽ làm người ta mệt mỏi, bởi vì sáng nay, mặt trời lại mọc lên ở phương đông cũng như sáng hôm qua. Lúc một người bảo “Sao mà giống cảnh khỉ con bám lủng lẳng vào bụng khỉ mẹ để di chuyển thế nhỉ?” thì người khác bảo “Mấy ngón chân của cò trắng thực dài quá sức!” để chào lại thì cuộc đối đáp mới trở nên thú vị.

Ngày nay, không phải ai cũng có thể hiểu cái gọi là “văn nghệ mới” hay “cuộc sống mới” là gì. Nếu thế thì cũng được thôi. Nói về những nhà văn tân tiến, không phải là làm một con tính về quá khứ mà dự đoán những chuyện như đọt lá ngô đồng mới nhú hôm nay, ngày mai sẽ lớn thêm được bao nhiêu phân nữa.

Vì vậy tôi cũng không dám kết luận ngay về phong cách sáng tác của các nhà văn tân tiến. Tôi nói ngón chân của con cò trắng dài bởi vì tôi đã thấy nó như thế. Những người khác nếu có thấy mèo, thấy chim hồng tước, thấy hoa triêu nhan... thì cũng chẳng sao. Tuy vậy, rõ ràng là chúng ta đã bước vào một thời đại mà những người yêu văn nghệ cần thấy rằng sự hiện diện của các nhà văn tân tiến phải mang một ý nghĩa nào đó. Sự thực là nếu ta không cảm thấy được một tương lai nào đó cho nền văn nghệ mới thì không còn có thể nói chuyện về văn nghệ nữa. Sự góp mặt của các nhà văn tân tiến đã trở thành điều thường tình trong nền văn nghệ mới, chẳng khác nào khí trời. Những ai không chấp nhận điều này là những kẻ ngu muội chỉ biết thở bằng nước.

Tân cảm giác

Ngày nay mấy chữ “Tân cảm giác” không còn có thể tách ra khỏi các khái niệm như “nhà văn tiên tiến” hay “thời đại mới” nữa rồi. Đến nỗi nhiều người đã xem nó như phong cách sáng tác độc nhất của các nhà văn tân tiến. Khi chứng kiến sự xuất hiện của những cây bút cùng chí hướng trong tạp chí Bungei Jidai, Chiba Kameo gọi điều đó bằng cái tên “Sự ra đời của trường phái Tân cảm giác”. Thế rồi ông đã phân chia các nhà văn tân tiến ra làm hai loại: các nhà văn có chân trong Bungei Jidai là “phái tân cảm giác”, còn những người viết cho tờ Bungei Sensen (Văn nghệ Chiến tuyến) là những “nhà văn phái vô sản”. Cách gọi đó sau đã trở thành quen thuộc đối với văn đàn.

Tuy vậy, trước khi có tập quán gọi họ theo lối đó, xin biết thêm về một điều như sau:

Nếu các nhà văn phái vô sản cũng được gọi là những nhà văn tân tiến đang muốn đóng góp cho nền văn nghệ mới thì trong văn phong của họ phải bao hàm những cảm giác mới mẻ. Lí do rất rõ ràng và đơn giản. Nếu không có một hình thức biểu hiện mới thì sẽ không có một nền văn nghệ mới. Nếu không có hình thức biểu hiện mới thì sẽ không có nội dung mới. Không có cảm giác mới sẽ không có hình thức biểu hiện mới. Đây không phải là chuyện mới bắt đầu hôm nay. Và trên thực tế thì những nhà văn vô sản như các ông Maedagawa Koichiro, Kaneko Hirobumi và Konno Kenzo đều có những cố gắng để có thể biểu hiện bằng những cảm giác mới. Và đây là một điều đương nhiên.

Tuy vậy, độc lập với điều vừa kể, các nhà văn của trường phái này hãy còn có thái độ khác đối với cảm giác. Họ bảo rằng cho đến nay, văn nghệ chỉ hiểu được thiên nhiên và nhân sinh thông qua những cảm giác của giai cấp tư sản. Phải hiểu được thiên nhiên và nhân sinh bằng cảm giác của giai cấp vô sản. Phải nhìn cánh đồng củ cải trắng bằng con mắt của người nông dân, phải ve vuốt làn da đàn bà bằng bàn tay của một người thợ dệt. Tóm lại, nhà văn phải là một anh thợ dệt hay một người nghèo khó, bằng không thì phải là kẻ có khả năng có cùng một cảm giác như họ.

Nếu thực hiện được điều này thì thế nào cũng sáng tạo ra một loại hình văn nghệ mới. Thế nhưng trường hợp này không phải là “cảm giác chủ nghĩa”. Nói rõ hơn là phải “phát hiện cảm giác”. Ông Kataoka Teppei, một bình luận gia về “cảm giác mới”, khi dùng chữ “phát hiện cảm giác” chắc đã có chủ ý nói về chuyện đó.

Tuy nhiên, cũng như ông Kataoka Teppei đã thuyết minh, người theo chủ nghĩa tân cảm giác không xem việc phát hiện một cảm giác như mục đích của họ. Đứng trước những cảm giác vốn chi phối sinh hoạt của con người, họ sẽ nghĩ một cách khác so với các cách suy nghĩ trước đây. Thế rồi họ sẽ đem cái cảm giác mới có về cuộc đời để vận dụng nó trong thế giới của văn nghệ. Cách giải thích theo kiểu triết lí nghệ thuật như thế này làm cho vấn đề trở nên vô cùng rắc rối. Thế nhưng, khi nói “đường thì ngọt” chẳng hạn thì trong văn nghệ cho đến nay, người ta hiểu cảm giác ngọt đã được đưa từ đầu lưỡi lên thần kinh trên đầu và đầu sẽ báo là “ngọt”, và ta viết ra như vậy. Thế nhưng bây giờ lại viết là “lưỡi thấy ngọt”. Lại nữa, từ trước cho đến nay, “mắt” và “hoa hồng” là hai vật khác nhau. Nếu như bây giờ ta viết “Mắt tôi thấy hoa hồng đỏ” thì một nhà văn tân tiến có thể gộp hai thứ lại để viết thành “Mắt tôi là một đóa hồng đỏ”. Có thể là về mặt luận lí, nếu không giải thích thì không ai hiểu, thế nhưng tình cảm muốn viết như vậy đã trở thành một cách cảm thông với sự vật và cũng là một cách sống nữa.

Cách suy nghĩ về cảm giác như thế tất nhiên không phải là chủ nghĩa cảm giác theo lối hưởng lạc. Và cũng không phải là những cảm giác thiếu nội dung. Nếu muốn trả lời câu hỏi nội dung của văn nghệ là gì, thật ra có rất nhiều thuyết. Tuy vậy, nếu bảo đấy là tình cảm con người thì quả như thế. Dầu vậy, những ai cho rằng “có thể trải nghiệm được một thứ cảm giác bên ngoài tình cảm hay một cảm giác không có tình cảm” thì đó là lối suy nghĩ nhầm lẫn của những kẻ chủ trương rằng “có loại hình không có sắc” hay “có loại sắc không có hình”.

Như thế thì văn nghệ “tân cảm giác” đương nhiên phải quy về thứ văn nghệ của những tình cảm mới. Chỉ có những người mù mắt không nhận ra điều này mới có thể khinh thị nó khi nói rằng “văn nghệ tân cảm giác là một thứ văn nghệ không có tình cảm” hay “văn nghệ không có nội dung mới”. Tôi những muốn đạp đổ sự mê lầm trong luận điểm về văn nghệ của họ nhưng nó không phải là mục đích của bài viết này nên xin phép bàn qua chuyện khác. Vậy xin để tôi chỉ tập trung vào việc giải thích xem những cảm giác mới mẻ mà các nhà văn tân tiến trình bày trong tác phẩm của họ đã được thể hiện bằng cách nào.

Ngoài ra, khi luận về cảm giác trong văn nghệ, điều chúng ta phải chú ý là văn nghệ vốn khác với mĩ thuật và âm nhạc. Khi sáng tác mĩ thuật hay âm nhạc và thưởng thức chúng, thì những tác động của cảm giác lúc đó vốn khác xa so với những tác động của cảm giác lên trên văn nghệ. Vấn đề này cũng khá phiền phức, nếu muốn nói cho cạn, phải cần viết một bài bình luận khác. Dù sao, về mặt kĩ thuật và lối biểu hiện của cái mà chúng ta gọi là văn nghệ theo chủ nghĩa tân cảm giác, tôi có thể nói rằng nó đã tiến thêm một bước đến gần với cách tác động của cảm giác lên trên mĩ thuật và âm nhạc. Điều này là nguyên nhân khiến cho văn phong của các nhà văn tân tiến tỏa ra một cái đẹp như thơ.

 Nhận thức luận theo biểu hiện chủ nghĩa

Giả dụ trên cánh đồng có một đóa hoa loa kèn đang nở. Chỉ có ba cách nhìn đóa hoa ấy và chỉ có ba loại cảm giác đến trong ta vào lúc nhìn thấy hoa. Hoặc là “trong đóa hoa đang có ta”, hai là “đóa hoa đang ở bên trong ta” và ba là “ta với hoa là hai vật thể riêng biệt”. Đây là một vấn đề triết học về nhận thức luận. Do đó, tôi không thể nào trình bày cặn kẽ ở đây. Tôi chỉ xin phép được suy nghĩ về nó như một vấn đề liên quan đến cách biểu hiện văn nghệ.

Nếu mô tả đóa hoa ấy như ta và nó không liên hệ gì với nhau thì đó là cách viết kiểu tự nhiên chủ nghĩa. Đó là khách quan chủ nghĩa kiểu cũ. Có thể nói rằng cho đến nay tất cả các hình thức đều diễn đạt theo lối này.

Tuy nhiên, cái sức mạnh chủ quan trong ta không cảm thấy thỏa mãn với chừng đó. Bởi vì đang có cái ta bên trong đóa hoa ấy. Hay là đóa hoa ấy đang ở trong ta. Hai điều này rốt cuộc giống như nhau. Thế rồi, khi mang cảm giác đó đem sự vật diễn tả bên trên mặt giấy, chúng ta đã tạo ra cơ sở cho lối biểu hiện theo chủ nghĩa tân chủ quan. Nổi bật hơn hết trong những lí thuyết chủ quan đó có lẽ là biểu hiện chủ nghĩa ở Đức.

Vì có cái tôi nên thiên địa vạn vật mới tồn tại. Trong cái chủ quan của ta đã có thiên địa vạn vật. Kẻ mang tâm tình như thế để nhìn sự vật là đã nhấn mạnh về sức mạnh của chủ quan và tôn thờ tính tuyệt đối của chủ quan như một tín ngưỡng. Nơi đó, họ đã tìm thấy nguồn vui mới. Họ còn thấy là trong thiên địa vạn vật, có cái chủ quan của mình nữa. Mang cái tâm thế ấy để nhìn sự vật, họ vừa khuếch đại cái chủ quan của mình, vừa làm cho nó có khả năng lưu động một cách tự do. Thế rồi, với sự tiến triển của lối suy nghĩ này, họ đi đến chỗ xem “ta với kẻ khác chỉ là một” và “vạn vật chỉ là một”, giữa thiên địa vạn vật sẽ không còn biên giới nữa, chúng dung hợp lại thành một tinh thần duy nhất, một thế giới nhất nguyên.

Ngoài ra, mặt khác thì, khi tính chủ quan tuôn chảy vào bên trong vạn vật, có người nghĩ là lúc ấy vạn vật sẽ có một linh hồn riêng, nói cách khác, đó là chủ thuyết “vạn vật hữu linh hồn” vốn có tính chất đa nguyên. Đến đây, chúng ta có được một sự cứu rỗi mới. Hai thứ này trở thành chủ nghĩa chủ quan cổ xưa của Đông phương, đồng thời cũng là chủ nghĩa khách quan nữa. Không hẳn đâu, phải nói là chủ nghĩa “Chủ khách nhất như” cơ! Viết văn với một tinh thần như vậy chính là thái độ biểu hiện của những nhà văn tân tiến của hôm nay. Người khác xử sự như thế nào thì tôi không biết, nhưng tâm tình của tôi là như thế. Trên thực tế, nơi các nhà văn tân tiến khác, tâm tình này cũng đã bộc lộ ít nhiều trong trong lối diễn tả của họ. Có thể thấy điều đó nơi các ông Kataoka Teppei, Juuichiya YoshiSaburo, Yokomitsu Riichi, Tominosawa Rintaro, Kaneko Hirobumi và các nhà văn khác, cũng như ta sẽ nhận ra nó ngay khi đọc tác phẩm của các vị trong nhóm Vườn Nho (Budoen). Cách hiểu về lối biểu hiện của các nhà văn nói trên là do tôi tự tiện đánh giá nhưng tôi nghĩ rằng nó đã dựa trên những cơ sở lí luận mà tôi vừa trình bày.

Hiện nay, ở Nhật vẫn chưa thấy có nhà văn nào đáng được gọi là người theo chủ nghĩa biểu hiện, huống chi thái độ biểu hiện trong chủ nghĩa biểu hiện cũng có năm, bảy đường. Tuy nhiên, cách biểu hiện có tính tân cảm giác của các nhà văn tân tiến lại có cùng một cơ sở lí luận với nhận thức luận của những người theo chủ nghĩa biểu hiện cho nên tôi nghĩ họ có thể xem nhau là đồng minh về mặt nhận thức luận.

Hãy đưa một tác phẩm của nhà văn Yokomitsu Riichi làm ví dụ. Có những người xem văn phong của ông Yokomitsu là theo chủ nghĩa tự nhiên và như thế, cách biểu hiện của ông có tính cách khách quan. Rõ ràng đây là một sự hiểu lầm to lớn. Nếu đúng là chủ nghĩa khách quan thì đó phải là một chủ nghĩa khách quan mới. Một chủ nghĩa khách quan mới bởi vì nó là một chủ nghĩa chủ quan mới cộng với tinh thần “chủ khách nhất như”. Vì lẽ đó, có khi người ta gọi nó là trường phái biểu hiện, có khi gọi nó là phái lập thể và những ví dụ như thế, thật kể ra không hết. Hãy mở sách ở bất cứ đoạn văn nào của Yokomitsu Riichi (1898-1947). Hãy đọc đoạn văn được gọi là miêu tả tự nhiên mà xem.

 Đặc biệt hãy đọc chỗ mà ông mô tả nhiều món đồ một lượt bằng một nhịp điệu hối hả. Ta sẽ thấy một kiểu miêu tả theo kiểu “nhân cách hóa” nơi đó. Yokomitsu dùng trực giác để nhìn thấy trong mọi vật đều có một sinh mệnh. Tùy theo trạng thái đặc thù của đối tượng và cá tính của nó lúc bắt gặp, ông sẽ mang đến cho mỗi vật một sinh mệnh. Thế rồi, chủ quan của tác giả sẽ phân tán ra thành vô số để đi vào bên trong từng đối tượng và khiến cho đối tượng đó đứng lên nhảy nhót. Giả dụ khi Yokomitsu miêu tả một đóa loa kèn trắng thì đóa hoa ấy sẽ nở bên trong chủ quan của ông và cái chủ quan của Yokomitsu cũng nở bên trong đóa hoa đó. Có thể nói điều này cho thấy Yokomitsu vừa chủ quan lại vừa khách quan. Mặt khác, vì lẽ đó mà cách biểu hiện của Yokomitsu được xem là linh hoạt và tươi mới. Cũng nhờ đó mà từ trong tác phẩm của ông, ta nghe như đang vọng lại những tiếng reo vui.

Tình cảm mà tôi có đây không phải chỉ đến từ tác phẩm của Yokomitsu hay các nhà văn nói đến bên trên mà còn là một đặc sắc chung bắt gặp nơi rất nhiều nhà văn tân tiến nữa. Thế rồi, thái độ biểu hiện đó có khi làm sống lại một tình huống, có khi khuấy động nhân vật, tóm lại là đem đến một sự tươi mới, mát mẻ khi “lập thể hóa” được cách miêu tả. Để có tâm trạng này, điều kiện tất yếu là nhà văn phải tìm được những cảm giác mới. Và sau đó, tâm trạng này đương nhiên sẽ lại làm mới cảm giác của họ.

ĐÀO HỮU DŨNG (dịch)