Trấn Thành là một người làm rất tốt khâu marketing cho phim và bản thân anh cũng xác định rất tốt đối tượng khán giả - khách hàng của mình. Anh là một doanh nhân điện ảnh chuyên nghiệp và giỏi.


Xung quanh bộ phim MAI ăn khách

Kỳ 2: Yếu tố giải trí đè bẹp giá trị nghệ thuật

HÀ THANH VÂN

 

Bộ phim “Mai” không chỉ gợi nhớ đến những motif quen thuộc trong một số phim Hàn Quốc, mà còn khiến khán giả mê phim nhớ đến phim “Call me Chihiro” của Nhật Bản chiếu năm 2023, với kiểu nhân vật làm nghề nhạy cảm, bị kỳ thị, song vẫn khát khao được sống hạnh phúc. Và dĩ nhiên khán giả sẽ dễ có liên tưởng so sánh. Riêng Trấn Thành thì ngoài việc học hỏi motif, anh còn tham lam dồn ghép nhiều chủ đề vào phim “Mai” đến mức không cần thiết, thành ra bộ phim mang đến quá nhiều thông điệp, làm cho phim vừa rối rắm lại vừa loãng. Nếu như chỉ tập trung vào mối tình chị em giữa Mai và Dương cùng với hoàn cảnh giàu nghèo, tiết chế lại những ồn ào nơi chung cư hay spa thì mạch phim sẽ chặt chẽ hơn.

Một số cảnh quay lấy cảm hứng từ những phim nổi tiếng của thế giới, nhưng chưa thật sự làm mãn nhãn người xem, thậm chí còn khá vụng về. Chẳng hạn như cảnh Mai và Dương bước bên nhau trong bóng tối đan xen ánh sáng ở chung cư lấy cảm hứng từ bộ phim “Tâm trạng khi yêu” của Vương Gia Vệ. Cảnh Mai và Dương khiêu vũ với âm nhạc gợi nhớ bộ phim “La La Land” của Mỹ. Một số cảnh quay trong phòng chung cư gợi nhớ đến bộ phim đình đám “Ký sinh trùng” (Parasite) của Hàn Quốc… Một số lời thoại và cảnh quay hành động của nhân vật gợi nhớ đến phim của Châu Tinh Trì chẳng hạn như những lời thoại: “Anh muốn làm bạn trai em”, “Vì sao anh thích em?”, nhân vật nắm tay nhau, đi xe máy với nhau… KOL chuyên phê bình điện ảnh Lê Minh Mẫn (Robbey) nhận xét: “Trấn Thành luôn muốn chứng tỏ bản thân đang làm nghệ thuật, chứ không đơn thuần là một trường hợp thùng rỗng kêu to. Thế nên, cứ nhắm nhắm tác phẩm nghệ thuật nào của thế giới được đại chúng đón nhận, Trấn Thành sẽ cố bê những đặc sắc của thiên hạ vào phim mình - hiệu quả hay không tính sau”.

Dù đã tiết chế nhưng phim “Mai” vẫn còn những phân đoạn cãi vã, chửi thề, giống như web drama, làm giảm chất lượng phim. Thời lượng phim đến 130 phút cũng hơi dài, có thể cắt bỏ một số cảnh thừa mà không làm ảnh hưởng đến tác phẩm, chẳng hạn như những cảnh nóng như Dương hẹn hò tình một đêm với cô gái qua ứng dụng Tinder, hay có chỗ mang hơi hướng kinh dị, giật gân. Phần kết thúc phim còn đơn giản, dễ dãi, thiếu thuyết phục và khiến khán giả hơi hẫng hụt tâm lý sau khi đã chứng kiến quá nhiều tình tiết ở đầu và giữa phim.

Về phần kết thúc phim, cho dù Dương hứa hẹn với Mai là chờ anh hai năm sau, sau đó phim chuyển đến 4 năm sau ở Đà Lạt. Mai trở thành bà chủ spa (dĩ nhiên là thuê mặt bằng trong một resort) và vẫn độc thân, gặp lại Dương đi cùng bà mẹ và người vợ đang mang thai của Dương. Mặc dù kết thúc rất nhanh và chóng, tạo cảm giác “đầu voi đuôi chuột” nhưng rõ ràng với một bộ phim rất đời thường như thế, đó mới là một kết thúc hợp lý, bởi vì như lời thoại của nhân vật Mai: “Có ai thiếu ai mà chết đâu”. Đời thật không có cổ tích và những mối tình gái già hơn tuổi trai trẻ thì đa phần chỉ là trong trường hợp gái già là “phú bà” (có nghĩa là người phụ nữ giàu có trong ngôn ngữ mạng của Trung Quốc) mà thôi và điều này có thể thấy ngay ở trong showbiz Việt.

Thật ra kịch bản phim “Mai” là nói về thân phận người phụ nữ. Có người thì liên tưởng đến nữ diễn viên Mai Hồ với một hoàn cảnh có đôi phần tương tự và cho rằng kịch bản lấy cảm hứng từ Mai Hồ. Nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Còn đọng lại trong tôi là một cảm giác nặng nề và khó chịu khi xem bộ phim “Mai” cho dù tôi vẫn đánh giá phim này là một phim lên tay của Trấn Thành. Vì sao như vậy?

Vì kịch bản không có gì mới, cũ kỹ với tình tiết giống như nhiều những bộ phim đã từng làm trước đó. Vẫn là giàu – nghèo. Vẫn là người mẹ chia rẽ tình yêu. Vẫn là căn bệnh bộc phát của người mẹ. Vẫn là bỏ đi xa. Vẫn là thành đạt sau đó! Giá như có thể mới hơn, đừng lặp lại motif xưa như trái đất ấy! Bồng bột và bồng bềnh trong một môi trường kịch bản quen thuộc!

Vì các nhân vật nữ vẫn một màu xám xịt! Ngoại trừ Mai và Bình Minh (con gái của Mai). Tại sao phụ nữ có thể xấu như thế? Có thể độc ác với nhau như thế? Và họ là những người ở một chung cư cũ kỹ, thuộc tầng lớp bình dân, hoặc là những cô gái làm việc trong spa. Tôi không thích cách xây dựng những nhân vật nữ phụ như vậy. Tôi luôn nghĩ rằng kịch bản phim phải có sự “điển hình hóa” phù hợp và cũng sẽ có sự nhấn nhá, thêm thắt cho nhân vật. Nhưng chung cư cũ và những nhân vật nữ phụ “đáng sợ” ở chung cư này làm cho tôi cảm thấy đó không phải là một chung cư Sài Gòn, những phụ nữ bình dân Sài Gòn mà tôi từng gặp khá nhiều ngoài đời. Họ không độc ác như thế, cay nghiệt như thế. Ngay cả cặp vợ chồng bán hủ tiếu mà kịch bản xây dựng cũng quá là “nhẫn tâm” và “độc ác”.

Biên kịch Bình Bồng Bột không làm tôi thất vọng về sự bồng bột của anh. Thất vọng vì anh cho nhân vật người đàn ông bán hủ tiếu nói giọng Hoa vào vai phản diện “dê xồm” và cô vợ hay chửi rủa. Giá như đổi lại là một đôi vợ chồng bán hủ tiếu dễ thương, niềm nở, có thể thấy ở rất nhiều ngõ hẻm hay cửa chung cư ở khắp Sài Gòn. Vì thế tôi cho rằng xây dựng nhân vật phụ cần khéo hơn, để cho thấy rằng cuộc đời này vẫn có chút gì đó ngọt ngào và nhân văn, chứ không phải chỉ là những lời mắng chửi!

Vì tôi không thích nhiều lời thoại trong phim. Một vài ví dụ: Vai bà mẹ Dương do Hồng Đào diễn thì khóc lóc kể lể dài dòng chuyện nuôi con vất vả thế nào, lý giải cuộc đời ra sao! Ngay câu cửa miệng của bà mẹ: “Life is too short”, một thành ngữ tiếng Anh tôi học từ hồi nhỏ, cũng chả ăn nhập gì với nội dung phim vì chỉ để kêu gọi Mai yêu đi! Chuyện yêu hay không thì liên quan gì đến đời dài hay ngắn! Yêu thì một là cứ yêu thôi. Hai là phải tính toán thì mới yêu được! Nội dung phim chỉ có thế!

Mai là cô gái thuộc tầng lớp bình dân. Song có lẽ xưng hô với người yêu theo kiểu “mày - tao” có lẽ không phải là một xưng hô phù hợp khi chiếu phim cho đại chúng! Có thể đây là chỉ là cảm tính rất chủ quan của tôi, song tôi luôn cho rằng trong tình yêu mà xưng hô mày – tao thì có lẽ cảm xúc cũng tụt về con số 0! Ngoài ra rất khó lý giải vì sao lúc đầu là xưng hô anh – em ngọt ngào, sau đó thì lại xưng hô mày – tao vì diễn biến tâm lý của nhân vật không có sự biến chuyển cho phù hợp!

Và thật ra tôi vẫn mong muốn có một phim hay, dù chỉ là mang tính giải trí chiếu Tết về con người Sài Gòn, xã hội Sài Gòn. Nhưng xã hội Sài Gòn ấy được diễn tả quanh quẩn ở một chung cư cũ kỹ, với những nhân vật độc ác, với một spa cũng chẳng tốt đẹp hơn và ngay cả những người giàu cũng có đủ nhẫn tâm dẫu rằng đó là sự nhẫn tâm hợp logic. Sài Gòn đáng yêu của tôi với những con người Sài Gòn hào sảng, nhiệt tình rất nhiều quanh tôi mà lên phim chỉ có thế thôi sao? Đây hoàn toàn là cảm xúc cá nhân và có thể tôi không phải là người từng trải, am hiểu tầng lớp “dưới đáy xã hội” như nhiều người khác, nhưng tôi vẫn mong muốn một bộ phim đừng vẽ một chân dung Sài Gòn đáng buồn như thế, đừng xây dựng những nhân vật nữ ác như thế, dẫu chỉ là thông qua những mảnh đời.

Trấn Thành là một người làm rất tốt khâu marketing cho phim và bản thân anh cũng xác định rất tốt đối tượng khán giả - khách hàng của mình. Anh là một doanh nhân điện ảnh chuyên nghiệp và giỏi. Anh nắm bắt được phân khúc thị trường của mình. Chúng ta cũng không thể bắt phim Trấn Thành phải hay như là nhiều bộ phim giải trí của Hollywood được vì ngoài kịch bản, còn cần bối cảnh, kinh phí và cả trình độ của người làm phim cũng như số đông khán giả. Tôi cho rằng phim Trấn Thành là phù hợp với thị hiếu khán giả bình dân, nội dung đơn giản, dễ xem, dễ hiểu. Nhưng chỉ là đặt trong bối cảnh Việt Nam và có thể mang ra chiếu ở thị trường nước ngoài tăng thêm doanh thu với khán giả chủ yếu là Việt kiều.

Còn muốn đi xa hơn nữa như một bộ phim giải trí vẫn có thể mang tính nghệ thuật kiểu “Titanic” hay hoàn toàn dùng công nghệ để chinh phục khán giả kiểu như phim “Avatar” thì điện ảnh Việt Nam rõ ràng không thể đạt tới tầm đó, dù nguồn cảm hứng sáng tạo cho những phim mang tính “bom tấn” có đầy rẫy trong lịch sử Việt Nam. Chỉ có điều nếu bằng lòng với hiện tại và vẫn mãi như vậy thì cũng có nghĩa là để cho điện ảnh Việt Nam đứng chân tại chỗ.

Mạng lưới các thành phố sáng tạo UNESCO (UCCN) của UNESCO được thành lập năm 2004 nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các thành phố. UNESCO xác định sáng tạo là yếu tố chiến lược để phát triển đô thị bền vững. Tại Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch đã đưa ra Đề án phát triển hệ thống các thành phố sáng tạo Việt Nam và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào đầu năm 2023.

Năm 2023, Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM đã chọn lựa lĩnh vực Điện ảnh để đăng ký làm hồ sơ gia nhập mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO và đang đệ trình lên Ủy ban nhân dân TPHCM xem xét, đồng thời lắng nghe ý kiến của những chuyên gia tham vấn. Theo định nghĩa của UNESCO đưa ra: Thành phố sáng tạo (trong tiếng Anh được gọi là Creative City) là nơi mà ở đó con người với tính sáng tạo là tài nguyên quan trọng, tạo ra của cải cho xã hội. Tài nguyên thiên nhiên dồi dào, vị trí địa lí thuận lợi và tiếng tăm từ quá khứ không còn đóng vai trò quyết định tới sự hưng thịnh của một quốc gia hay thành phố trong thời đại ngày nay. Thay vào đó, nền tảng cho sự phát triển của mọi thành phố là tính sáng tạo.

Thành phố sáng tạo là những thành phố chú trọng phát triển 7 lĩnh vực: (1) Nghệ thuật dân gian và thủ công mỹ nghệ, (2) thiết kế, (3) phim ảnh, (4) ẩm thực, (5) văn học, (6) nghệ thuật truyền thông đa phương tiện, (7) âm nhạc. Khi đăng ký làm hồ sơ tham gia mạng lưới, mỗi thành phố sẽ chọn một lĩnh vực. Tính đến thời điểm hiện tại, có 350 thành phố sáng tạo tại trên 100 quốc gia, đại diện cho 7 lĩnh vực sáng tạo.

Tuy nhiên, TPHCM việc chọn điện ảnh làm lĩnh vực phát triển chính làm gợi nên không ít những băn khoăn, ít nhất là đối với cá nhân tôi. Chọn điện ảnh có ưu điểm vì là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp, do vậy các loại hình nghệ thuật khác cũng sẽ góp mặt trong điện ảnh. Nhưng nếu xét riêng điện ảnh TPHCM, thì rõ ràng còn rất nhiều điểm yếu. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra mà rất khó có câu trả lời: Điện ảnh TPHCM ở đâu trên bản đồ điện ảnh thế giới? Đã có những tác phẩm gì tiếp cận với điện ảnh thế giới? Đã có những hoạt động nổi bật gì để giao lưu quốc tế hay chỉ là chờ đến năm 2024 mới có Liên hoan phim quốc tế TPHCM lần thứ nhất? Các thế hệ nghệ sĩ, đạo diễn có những ai vươn tới tầm ngôi sao bên ngoài lãnh thổ Việt Nam? Và điều quan trọng nhất, đâu là bản sắc điện ảnh TPHCM nói riêng và bản sắc điện ảnh Việt Nam nói chung? Dĩ nhiên, nếu so với những thành phố sáng tạo khác trên thế giới cũng chọn điện ảnh làm mũi nhọn như Cannes (Pháp), Roma (Italia), Mumbai (Ấn Độ), Pusan (Hàn Quốc)… thì TPHCM sẽ phải trải qua một chặng đường dài vất vả nếu cũng chọn điện ảnh, cho dù không thể phủ nhận thực tế là điện ảnh TPHCM phát triển dẫn đầu cả nước.

Vậy thị trường phim Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng sẽ đọng lại những gì, giới thiệu ra thế giới những gì với những phim như “Mai” hay “Gặp lại chị bầu”? Là gì ngoài doanh số? Là gì ngoài những tranh cãi? Vậy liệu TPHCM có trở thành thành phố sáng tạo điện ảnh được hay không nếu quanh năm suốt tháng vẫn chỉ là sản xuất những bộ phim giải trí tầm trung với thị hiếu của khán giả Việt?

 

(Mời đọc tiếp kỳ 3: Con số doanh thu có đáng tin?)