Thơ về tình yêu chiếm một tỉ lệ khá lớn trong các tập thơ của Trần Ngọc Trác. Gắn với xứ Huế đẹp như trong tranh và với Đà Lạt mộng mơ, tình yêu trong thơ anh thật đẹp và đắm say.


NGƯỜI CỐ ĐÔ Ở XỨ SƯƠNG MÙ

ĐẶNG NGỌC LAN

Trần Ngọc Trác (còn có bút danh là Trần Trọng Văn) sinh năm 1958 tại làng Trúc Lâm, xã Hương Long, huyện Hương Trà (nay là phường Hương Long, TP Huế).

Ông rời quê hương vào sống và viết ở Đà Lạt từ năm 1979 đến nay. Chủ tịch Hội VHNT Lâm Đồng khóa IV (2007-2012). Tính đến năm 2023 này, Trần Ngọc Trác đã in 7 tập thơ: Hoa trinh nữ (1990), Hương lửa (2001), Ngọn gió lang thang (2006), Sắc hoa Đà Lạt (2007), Khuôn trăng (2007), Rong chơi cho đã kiếp người (2012), Sự bức bối của lửa (2014); 11 tập ký, ghi chép, sưu khảo và cảm nhận.

Ngoài ra anh còn là chủ biên của 14 ấn phẩm VHNT; Viết kịch bản, cố vấn chương trình cho 33 tập phim ký sự tài liệu của VTV như: Đà Lạt ký (12 tập); Chuyện cũ Đà Lạt (07 tập); Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du (05 tập); Kỳ nhân xứ sương mù (09 tập)… Thơ anh xoay quanh nhiều phạm vi của hiện thực cuộc sống. Bởi trong đôi mắt của một thi sĩ, theo bước chân của một phóng viên báo chí và trong sự cảm nhận tinh tế của một trái tim luôn mở rộng đế đón nhận mọi sắc màu, mọi cung bậc buồn vui của cuộc đời…

Rời xa cố đô Huế vào sinh sống và làm việc ở Đà Lạt, người con xa xứ cứ đau đáu nhớ về quê nhà: Xa quê mới thấy cực lòng/ Bốn bề núi, bốn bề sông ngậm ngùi (Quê xa). Là một phóng viên báo chí, anh đã từng rong ruổi rất nhiều nơi và anh nhận ra rằng: Dẫu có dọc ngang khắp bốn phương trời/ Cũng nhỏ bé trước bình yên quê mẹ (Bình yên quê mẹ). Xa quê hương, trong tâm trạng hụt hẫng, anh cảm thấy nơi nào không phải là Huế thì mọi khung cảnh đều trở nên xa lạ: Tiếng chim cũng tiếng quê người buồn tênh/ Tí tách giọt nước ngoài hiên/ Giọt mưa cũng giọt mưa miền quê xa (Quê xa).

Yêu Huế, anh rất tự hào về vẻ đẹp phong cảnh và văn hóa xứ cố đô, tự hào về con người quê hương - những thiếu nữ Huế xinh đẹp, duyên dáng: Trở lại Huế, anh lên đồi Vọng Cảnh/ Ghé Thiên An nhắc lại chuyện tình xưa và: Nón lá bến Tuần, hàng cau Vỹ Dạ/ Em là ai mà chàng Tử cất lời? (Về lại Huế). Anh yêu cái hồn quê của xứ Huế thuở ngày xưa mộc mạc, dân dã mà thật nên thơ. Thế nên, trở lại thăm Huế, thấy cảnh vật đổi khác, anh đã rất nuối tiếc: Bây giờ quê khác xưa rồi/ Còn đâu “cái dậu mồng tơi nhà nàng”/ Còn đâu “lá trúc che ngang”/ Còn đâu trẻ nít quanh làng nhảy dây (Quê nhà).

Gắn bó với Đà Lạt hơn nửa đời người, nói theo nhà thơ Chế Lan Viên thì vùng đất này đã “hóa tâm hồn” thi sĩ: Vừa lên đỉnh dốc Prenn/ Bao nhiêu nắng lửa rơi nghiêng mạn đèo - Về với Đà Lạt, tất cả những bức bối sẽ tan nhanh để trong lòng chỉ còn sự thanh thản, bình yên. Một bức tranh ngôn từ về Đà Lạt đẹp và thơ mộng làm say lòng người: Gió luồn vực núi gió reo/ Ngàn năm thông vẫn bốn chiều của thông/ Vắt qua con dốc lượn vòng/ Rừng nằm trong phố/ Phố nằm trong mây (Đà Lạt của tôi). Ngao du cùng thắng cảnh thơ mộng huyền ảo của xứ sở sương mù, ngòi bút của anh trở nên khoáng đạt khi ca ngợi vẻ đẹp của hồ Tuyền Lâm: Một rừng xanh biếc Tuyền Lâm/ Con thuyền lướt sóng giữa dòng ngẩn ngơ.

Và có lẽ, bức tranh có hồn nhất, giàu chất thơ nhất về vẻ đẹp của hồ chính là cảnh Quỳ vàng rực sáng ven đồi/ Đàn bò tha thẩn ngắm trời bình yên (Dạo chơi trên hồ Tuyền Lâm). Trong cảm hứng mãnh liệt được thăng hoa khi sáng tạo, thi sĩ đã có những vần thơ thật độc đáo khi miêu tả cảnh đường đèo của xứ thông reo - Cảnh đèo mang vẻ đẹp huyền ảo như ở chốn bồng lai, thực mà như mơ: Qua đèo/ Qua đèo/ Qua đèo/ Con đường ngoằn ngoèo/ Vắt vẻo đồi thông/ Mây bông sà xuống lòng thung/ Trăng một vùng/ Trăng khắp vùng đèo mây (Qua đèo). Còn Đà Lạt trong con mắt của người đang yêu mang vẻ đẹp thật dịu dàng: Chiều Đà Lạt mưa dịu dàng qua phố/ Anh tiễn em về nơi ấy - quê em (Mưa vẫn dịu dàng bay).

Rõ ràng, phải yêu quê hương Huế, yêu Đà Lạt đến sâu nặng thì mới có được những nét vẽ xuất thần về cảnh và rung động mãnh liệt như thế về hai vùng đất mà anh yêu thương: Huế và Đà Lạt.

*

Là con út trong gia đình có tám anh chị em, hai người anh mất sớm, Trần Ngọc Trác có lẽ được cha mẹ và các anh chị dành tình thương yêu nhiều nhất. Cậu Út cũng rất sâu nặng tình cảm với gia đình. Anh viết nhiều bài thơ về cha mẹ. Trong bài Cha làm thợ may, cậu Út tả: Lùng bùng sợi chỉ giăng ngang/ Cha treo tuốt dọc thành hàng thẳng bưng. Người cha nhân hậu với cái tâm trong sáng ấy qua đường kim mũi chỉ mà dạy con phải thẳng ngay chính trực. Vậy nên trong tâm tình yêu thương, kính trọng cha mình, anh đã xúc động mà khẳng định: Tưởng rằng vụn vặt tần mần/ Hóa ra thánh thiện đến cùng cha ơi!

Anh đặc biệt dành tình cảm cho người mẹ thân yêu. Trong mắt mẹ, anh luôn thấy mình nhỏ bé: Ta bao giờ vẫn là trẻ con trong mắt mẹ. Với lòng hiếu thảo vô bờ, anh muốn nhận về mình tất cả những vất vả, thua thiệt của cuộc đời, miễn sao mẹ anh được sống thanh thản: Gió quất vào đâu, còn tùy/ nhưng đừng để mẹ ta buồn vô cớ/ Gió có thể giận hờn bờ vai ta lầm lỡ sương đêm/ và trần trụi ban ngày/ Nhưng đừng làm cho mẹ ta/ sợ cao nguyên nắng gió (Con trong mắt mẹ)...

Anh cũng dành những tình cảm thật ân tình gửi tặng người vợ đã cùng anh chia ngọt sẻ bùi trong suốt hành trình mưu sinh và trên con đường nghệ thuật. Những lời thơ anh viết tặng vợ thật mộc mạc, giản dị nhưng hàm chứa bao yêu thương ngọt nồng: Gian phòng rộng/ không rộng hơn được nữa/ Em một mình. Em lặng lẽ đêm. Trong đời sống thường nhật, vợ chồng sao tránh khỏi những mâu thuẫn như chén bát va vỡ, anh đã hành xử rất rất tâm lý và nhân văn: Anh buồn em giả vờ ra ngõ/ Cho nguôi ngoai cơn nóng nảy trong mình/ Như con thuyền trên sóng bập bênh/ Gió có dừng, biển bao la mới lặng (Chuyện đời thường)…

Thơ về tình yêu chiếm một tỉ lệ khá lớn trong các tập thơ của Trần Ngọc Trác. Gắn với xứ Huế đẹp như trong tranh và với Đà Lạt mộng mơ, tình yêu trong thơ anh thật đẹp và đắm say.

Đó là tình yêu thật lãng mạn gắn với những cung đèo Đà Lạt: Vì đâu em hỏi vì đâu/ Mà đèo hun hút luồn sâu men đồi/ Đèo cao/ mây-nhấp-nhổm ngồi/ Mây bông đang rước em tôi qua đèo (Qua đèo).

Chính cảnh sắc thơ mộng của Đà Lạt khiến cảm xúc của anh được thăng hoa và hạnh phúc với tình yêu: Sương choàng lên đỉnh Lang Bian / Lá thông nhè nhẹ rơi nghiêng qua đồi / Một mình em với riêng tôi/ Trời xanh nhuộm với sắc trời rỗng không (Xuân về trên đỉnh Langbian).

Tình yêu ấy cũng quay quắt trong nỗi nhớ khôn nguôi: Một năm xa em/ Cắt ruột buốt lòng/ Mong ngày gặp lại/ Xa ngái mênh mông… (Nỗi nhớ). Hay: Em về/ rũ rối câu thơ/ Cho anh ngơ ngẩn ngóng chờ ngày đêm (Tưởng).

Có một chút ghen tuông thật dễ thương: Anh bên em/ lối quen về mượt cỏ/ Sương vô tình/ hôn nhẹ mái tóc em/ Anh trách anh, hẹp hòi bé nhỏ/ Đi bên em mà ghen hạt sương mềm! (Tự tình).

Bằng một thứ ngôn từ khéo léo, tinh tế, giàu cảm xúc, thơ tình yêu của Trần Ngọc Trác mang phong vị man mác mà ngọt ngào, nhẹ mà nồng và tình tứ, chỉ gợi nhưng mãnh liệt. Hấp dẫn. Đắm đuối. Chếnh choáng. Say.

*

Ở rất nhiều bài thơ, Trần Ngọc Trác đã bày tỏ một quan điểm sống theo những chuẩn mực chung. Anh đứng trên lập trường của cái thiện, lẽ phải; trên cơ sở của đạo đức, của quan điểm sống và lối sống chung của dân tộc mà khẳng định. Và Dặm trường dặm ngôn là tác phẩm thể hiện rõ nhất quan điểm sống đẹp của anh… Trước hết, phải giữ gìn phẩm hạnh ở bất cứ hoàn cảnh nào là điều bức thiết mà anh nhất quán thực hiện trong suốt cuộc đời. Là người, phải có cái tâm: Dặn lòng/ sau trước ghi khắc cốt/ Một chút từ tâm cũng an lành.

Là người trọng đức chứ không trọng lợi danh, anh nhủ mình phải sống cho minh bạch rõ ràng, không nhập nhèm giữa tốt - xấu, thiện - ác, phải - trái, trong - đục: Tham chi một chút hư danh/ Suốt đời day dứt tan tành mà thôi/ Đã mang thân kiếp con người/ Phải cho thấu đáo rạch ròi đục trong.

Đặc biệt, anh rất quan tâm những số phận bất hạnh, khổ đau; những người tài hoa mà phải chịu ngang trái giữa dòng đời vạn biến này: Làm người có trái tim thì phải sống cho nhân ái. Anh tha thiết kêu gọi mọi người hãy quan tâm tới những kiếp sống bơ vơ: Xin đừng quay lưng trước bao số phận/ Đang khát tìm một chốn nương thân.

Từ quy luật của tự nhiên, anh khéo léo khẳng định rằng con người phải có ý chí vượt thắng khó khăn, nghịch cảnh trong cuộc đời: Gió tựa vào cây/ người tựa vào ý chí/ Có vươn xa cũng không sợ yếu mềm…

Thực tế hạnh phúc không tự đến với con người. Muốn có nó, người ta phải tự đi tìm: Đừng đợi chờ ai mang phúc đến/ Nhân gian vay trả lẽ thường tình… Anh nhắn nhủ: Sống tích cực là phương cách tốt nhất để đến khi nhắm mắt từ giã cuộc đời, người ta sẽ không phải nuối tiếc vì mình đã không “sống” đúng nghĩa: Hãy sống như từng sống/ Hãy yêu như từng yêu/ Nhỡ mai khi nằm xuống/ Lòng nhẹ nhàng bao nhiêu. Và bở vậy nên mặc cho cuộc đời tệ bạc, anh vẫn tiếp tục sống, hành động và cống hiến: Mặc kẻ qua cầu rút ván/ Dòng sông vẫn mải miết trôi…

Bởi cuộc đời luôn tồn tại hai mặt đối lập: ánh sáng - bóng tối, thiện - ác, cái cao cả - cái thấp hèn, đúng -sai… Vì thế anh đã khắc khoải, đau đớn khi phải chứng kiến những bi kịch cuộc đời trước sự lấn át của cái xấu, cái ác, cái sai. Tâm hồn anh đã nhức buốt khi đàng sau những cuộc ly hôn là nỗi xót đau của mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt là những đứa con trong Lẽ nào có cuộc chia ly. Anh cám cảnh khi nhìn thấy những đứa con phải ngóng đợi cha nó trở về trong vô vọng vì cha nó đã có một “mái ấm mới” trong bài thơ Chờ cha. Trái tim của thi nhân cũng quặn thắt khi liệt kê ra những vấn nạn của cuộc sống khi con người đến trong cuộc đời chỉ để “tồn tại” vô nghĩa trong Ta đã sống…

Những mảng đời tối sáng và muôn sắc màu của bức tranh cuộc đời đã được khúc xạ qua trái tim của nhà thơ rồi đi vào thơ với những cảm xúc thật thương yêu…

*

Hiện diện trong thơ Trần Ngọc Trác hầu hết là con người của cuộc sống đời thường được anh cảm nhận từ nhiều chiều khác nhau, vô cùng phong phú. Họ được miêu tả ở đủ mọi cung bậc cảm xúc, có người mang nét cao đẹp, phi thường nhưng cũng có những con người chạm phải va vấp trong cuộc đời. Chính điều đó khiến hình ảnh con người trong thơ anh trở nên thật hơn. Nhân vật trữ tình trong thơ anh luôn có những khát khao cháy bỏng về hạnh phúc tình yêu, về tình đời, tình người. Cũng ở đó, những suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm, chua xót của nhà thơ trước nhân tình thế thái và bày tỏ khát vọng mong con người được hạnh phúc. Vì con người sống bất luận trong hoàn cảnh nào, thời đại nào cũng đều mưu cầu hạnh phúc, tình yêu.

 

Nguồn: Văn Nghệ