Điều khiến tôi thích quan sát, cảm phục tinh thần lao động chữ nghĩa của La Khắc Hòa là ông luôn thể hiện sự vui, khoái thú, nhẹ bẫng với từng trang viết nhọc nhằn, khổ công. Học trò ít khi thấy ông than thở, trách móc bản thân như thường thấy ở những ông giáo hay ưu tư, mẫn cảm với phận sự làm kẻ sĩ, trí thức ở đời.
NHÀ LÝ LUẬN VĂN HỌC BIẾT CƯỜI
MAI ANH TUẤN
Quãng đầu năm 2005, Khoa Ngữ văn (Đại học Sư phạm Hà Nội)
tổ chức Hội thảo khoa học về văn học Việt Nam sau 1975. Hôm ấy, mặc dù có khá
nhiều báo cáo nhưng cậu sinh viên năm cuối là tôi chỉ chú mục nội dung lẫn cách
trình bày của tác giả tham luận “Nhìn lại những bước đi. Lắng nghe những tiếng
nói”. Cách ông nhấn nhá từng ý, tay vung dứt khoát, giọng rổn rang và nụ cười sảng
khoái mỗi khi nhắc đến những “tiếng hét”, “tiếng thét” trong văn học hiện thực xã
hội chủ nghĩa khiến tôi quá đỗi ngạc nhiên và ấn tượng mãi.
Tôi không nghĩ một nhà giáo mô phạm, một người nghiên
cứu lí luận văn học thâm niên, lại có thể, giữa hội thảo đang tỏ ra nghiêm ngắn
và cẩn trọng phát ngôn ấy, tự biểu đạt mình thoải mái, có phần đùa tếu, và hết
sức bay bổng các quan điểm sắc sảo vốn dĩ đòi hỏi người nghe cũng phải thật cởi
mở, trọng đa chiều mới đón nhận một cách thấu đáo.
1.
Tôi đã đọc lại nhiều lần tham luận đó. Tinh thần chung
của nó là chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa văn học trước và sau 1975 trên phương
diện “tiếng nói, giọng nói của các giai đoạn”. Theo tác giả, nhờ có tiếng nói, điệu
giọng riêng mà tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác văn chương của các thời đại
“tìm thấy được hình thức biểu hiện cụ thể, cảm tính”, đồng thời, hình thành
phong cách, bản chất thẩm mĩ của chính thời đại mình. Trước 1975 thì có “một giọng
nói rất to thống ngự”, với nhiều biểu hiện khác nhau, khi “hét” (“Ta hét huyên
thuyên ta chạy khắp nhà”), khi “thét” (“Tiếng Người thét mau lên gươm với
súng”), khi lại “hát” (“Tiếng hát con tàu), rồi “ca” (“Bài ca xuân 61”, “Bài ca
xuân 71”), tiếng “đại bác” (Đất nước ta ơi/Xin bắn hai mươi phát đại bác vang
trời/Chào xuân 1967!”).
Còn sau 1975, đặc biệt là giai đoạn Đổi mới (1986), xuất
hiện ngày càng nhiều “tiếng nói nhỏ, nói thầm” trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên,…Trước 1975, văn học sử thi “biến
tiếng nói thành tiếng hát”, sau 1975, văn học thế sự “chuyển tiếng nói thành tiếng
cười trào tiếu, giễu nhại”. Đi theo góc nhìn phân tích và so sánh như thế, bài
tham luận, quả thật, đã giúp công chúng hình dung rõ hơn tính chất bước ngoặt
trong tiến trình văn học Việt Nam từ sau 1945 đến 1975, một tiến trình, bởi nhiều
lí do khác nhau, đã không thể tự đặt định, tạo dựng những tiếng nói trung thực
và đa dạng nhất. Một gợi dẫn khác mà tham luận này đặt ra là sự phân chia làm
ba chặng của văn học Đổi mới (1975-1985, 1986-1991 và 1992 đến nay), trong đó, ở
chặng hai, “giai đoạn sôi nổi nhất”, theo tôi, có những cơ sở và điểm thuyết phục
nhất định.
Nhà giáo, nhà nghiên cứu La Khắc Hòa, tác giả của tham
luận đó, thật ra, đã viết về văn học Đổi mới ngay thời điểm văn đàn đang thảo
luận sôi nổi nhiều hiện tượng văn học mới cuối thập niên 1980. Dưới bút danh Lã
Nguyên, ông đã viết một số bài mà mức độ trao đổi, đề đạt ý kiến khá thẳng thắn
và chính xác như Vì một quá trình văn học tương lai, Nghĩ về vấn đề hiện đại
hóa lý luận văn học, Lý luận văn học phải trở thành lý luận lịch sử, Văn học Việt
Nam trong bước ngoặt chuyển mình,…
Quan sát và trải nghiệm không khí đổi mới văn chương
trực diện như vậy nhưng Lã Nguyên không kéo dài việc đăng đàn báo chí, nơi nhiều
“cả giọng” bấy giờ dường như đều xuất thân hoặc dính dáng đến khoa học lí luận
văn học như ông. Rút lui và rồi trở thành người “chậm phẩm”, đúng hơn là người
muốn thể hiện sự kĩ lưỡng và hứng thú đặc biệt với những vấn đề, tác giả văn chương
độc đáo, mãi đến năm 2018, khi đã ở tuổi thất thập, Lã Nguyên-La Khắc Hòa mới
ra cuốn sách nghiên cứu, phê bình đầu tay: “Phê bình kí hiệu học”. Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn
ngữ. Ông đã loại bớt các bài viết thời vụ và chọn lựa, hết sức tập trung, các
tiểu luận nghiên cứu văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (HTXHCN) và văn học Đổi
mới trên tinh thần vận dụng tri thức lí thuyết kí hiệu học (Semiotics). Chậm
công bố sách, thành thử, cũng cách để ông cố gắng bồi đắp hiểu biết lí thuyết đến
nơi đến chốn, hơn nữa, còn tính toán gài đặt chúng làm cơ sở nền tảng sao cho
các phát hiện, kiến giải văn chương của mình có nét riêng, hấp dẫn và mới mẻ.
Trong “Phê
bình kí hiệu học”,
La Khắc Hòa trở lại với nhiều hiện tượng văn học thời Đổi mới mà cá tính nghệ
thuật của họ vẫn còn đầy thử thách đọc đến hôm nay như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm
Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh. Ông cũng tỏ ra nhanh nhạy giới thiệu,
đánh giá bước đầu những biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt
Nam. Nhưng cuốn sách dường như không lấy văn học Đổi mới làm trọng tâm, kể cả
khi ông trình bày, diễn giải rất thú vị về ngôn ngữ văn chương Nguyễn Huy Thiệp,
tác giả đã tạo ra “bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975” theo nhìn nhận của
ông. Trọng tâm và là phần có giá trị tham khảo nhất của cuốn sách, với tôi, lại
thuộc về những phân tích, nghiên cứu văn học HTXHCN qua các tiểu luận công phu:
Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật; Nguyên
tắc vẽ tranh, tạc tượng đài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt
Nam trước 1975; Diện mạo văn học Việt Nam 1945-1975 (Nhìn từ góc độ thi pháp thể
loại); Nguyễn Tuân – Nhà văn của hình dung từ. Có lẽ việc La Khắc Hòa “tái hồi”
trở lại di sản văn học mà bản thân đã từng gắn bó như bao người, từng giảng dạy
không thể khác như bao đồng nghiệp cùng thời, là một chủ ý lựa chọn của ông, một
thúc đẩy khoa học và cả những suy ngẫm thời thế đã thật sự chín muồi, thấm thía
trong ông.
Viết về văn học HTXHCN, do đó, còn là cuộc viết về
chính người đọc trước đây của mình, về những nhầm lẫn và vội vàng không thể
tránh khỏi trong thời đoạn quá nhiều đồng thuận mà lại quá ít phản biện, phản
bác. Dĩ nhiên, La Khắc Hòa, dù đã có độ lùi thời gian đáng kể, vẫn không hướng
vào mục tiêu phủ nhận hay hạ thấp giá trị nghệ thuật và đóng góp xã hội của văn
học HTXHCN (mà ở giai đoạn Đổi mới, từng có nhiều người mạnh mẽ nêu lên). Trước
sau, ông coi văn học HTXHCN là hệ hình giao tiếp nghệ thuật đã thuộc về quá khứ,
và việc của ông là tìm lại, hệ thống hóa và phân tích đặc trưng của hệ hình đang
bị bỏ quên ấy. Ít hàm chứa thái độ đánh giá thành bại và hay dở, càng không sa
vào tiếc nuối và thương cảm, ông thiên về miêu tả, phát hiện các đặc điểm đã từng
được qui phạm hóa trên nhiều cấp độ của văn học HTXHCN.
Tôi nghĩ, nhờ những phát hiện và lối viết sáng láng, đôi
khi hóm hỉnh, hí lộng của ông, người đọc hôm nay có thể sẽ thiện cảm hơn với văn
học HTXHCN, thể tất và chấp nhận cả những dị thường khác đời của nền văn học nảy
sinh trong bối cảnh đặc biệt ấy. Với những ai còn đau đáu, thiết tha văn học
HTXHCN, cuốn sách cũng không làm họ cảm thấy mếch lòng, chột dạ, ngược lại, mời
gọi họ nhìn lại các điểm khả thủ, các chiêu thức đắc địa nếu muốn vận hành một
nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, tuyên truyền các đường lối, chủ
trương chính sách.
2.
Theo La Khắc Hòa, khi nghiên cứu loại hình giao tiếp
nghệ thuật thì phải trả lời lời được bộ ba câu hỏi: ai nói? nói với ai? nói kiểu
gì? Áp vào văn học HTXHCN (mà thơ Tố Hữu là đại diện tiêu biểu), ông nhận ra
“hình tượng người chiến thắng” là chủ thể của mọi phát ngôn. Tiếng nói này biểu
lộ xoay quanh bốn kiểu nhân vật-kí hiệu: lãnh tụ anh minh, mẹ vĩ đại, chúng con
chiến đấu anh hùng và kẻ thù-bầy thú man rợ. Mô hình tổ chức này không chỉ phù
hợp với chức năng tuyên truyền, giáo dục mà còn dần trở thành bộ công cụ để con
người, đời sống xã hội cùng biểu đạt những nội dung ý thức hệ rõ ràng, dứt
khoát và đồng nhất. Để sự biểu đạt này có thể lan rộng, dễ thấy dễ hiểu, các
nhà văn tập trung sử dụng chuỗi hình tượng “kí hiệu thị giác”, “tấm áp-phích”,
“tạc tượng đài” thông qua lớp ngôn từ giàu hình ảnh, màu sắc.
Văn học HTXHCN trước 1975, La Khắc Hòa nhìn nhận,
“không thua hội họa trong việc vẽ tranh. Nó cũng không chịu thua điêu khắc
trong nghệ thuật tạc tượng đài”. Từ đó, về mặt phong cách, La Khắc Hòa coi văn
học HTXHCN là “chủ nghĩa hiện thực thị giác”. Đây là một định danh có lẽ cần được
nghiền ngẫm thêm và cần những khảo chứng tỉ mỉ khác. Nhưng tôi cho rằng đó là
phát hiện tài tình, đúng thể tạng tư duy và diễn đạt của La Khắc Hòa: ngắn gọn,
rõ ràng và thường xuyên chêm xen giọng điệu trào tiếu, uy-mua với chính phát hiện
của mình để người đọc không bị ngợp trước các khái niệm, lí luận phức tạp, kinh
viện.
Ông cũng ít trích dẫn sách vở, bày biện các tên tuổi
Âu Tây thời thượng. Lối viết phê bình của ông coi trọng sự chuyển hóa nguồn lí
thuyết đầu vào thành phát kiến, phát ngôn cá nhân hơn là lấy chúng làm bệ đỡ,
viền khung cho những lập luận chờn vờn thiếu sắc nét như thường gặp ở thực trạng
phê bình văn học Việt Nam hiện nay.
Trong văn học HTXHCN, các tiếng nói và ngôn ngữ tác giả
tuy biểu lộ khác nhau nhưng bản chất là gần gũi, trùng khít nhau. La Khắc Hòa
chọn thơ Tố Hữu và văn xuôi Nguyễn Tuân, hai trường hợp thoạt tiên tưởng như đối
lập và cũng từng được nhiều người nghiên cứu cho là riêng khác, để chứng minh mức
độ tương đồng trong tư duy ngôn ngữ và tư tưởng nghệ thuật của họ. Nếu Tố Hữu
thuần thục và tạo ra cả một hệ thống điển phạm cho văn học HTXHCN nhờ tái dụng
truyền thống từ chương của văn học trung đại với bốn mô thức tu từ là “Thệ”, “Hịch”,
“Ca thi”, “Đại cáo” thì Nguyễn Tuân lại đóng góp vào trường nghĩa văn học
HTXHCN nhờ tài hoa sử dụng “kho hình dung từ” nằm trong bốn phạm trù thẩm mĩ
truyền thống: kì, quái, chí, tuyệt. Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân, theo ông,
là chỉnh thể của bốn hình tượng truyện kể: kì nhân, kì thú, kì quan, quái nhân,
riêng kì quan và quái nhân là truyện kể về “chúng ta”, “chúng nó”, về “Tổ quốc
và kẻ thù”.
Như vậy, ngay cả một nhà văn cá tính và luôn tìm cách
chứng tỏ mình trong hệ biểu đạt khó lẫn như Nguyễn Tuân thì văn chương của ông
vẫn chẳng tài nào vượt thoát từ trường văn học HTXHCN. Nhưng Tố Hữu và Nguyễn
Tuân tồn tại không để bổ sung đặc sắc cho nhau mà thực tế là để cùng nhau hình
thành qui phạm văn học HTXHCN. Bởi thế, văn học HTXHCN cũng có thể xem là một bè
chủ, độc điệu được duy trì qua nhiều thế hệ cầm bút.
Khi đọc những phân tích, khái quát của La Khắc Hòa về
Tố Hữu và Nguyễn Tuân, tôi đồ rằng ông cũng muốn tiếp nối công việc nhận thức lại
quan điểm về tác phẩm văn học. Trước đây và cả hiện tại, chúng ta vẫn coi tác
phẩm là sáng tạo ngôn từ của một nhà văn cụ thể. Nhưng La Khắc Hòa, từ góc nhìn
kí hiệu học văn hóa, xem tác phẩm là “thế giới của những lời nói”, mà lời nói ở
đây “chính là sự phát ngôn thể hiện nhãn quan giá trị của những nhóm xã hội
khác nhau với tư cách là những chủ thể giao tiếp thẩm mĩ”. Cho nên, mỗi một tác
phẩm văn học, qua thao tác giải phẫu của ông, không tồn tại biệt lập mà đều đan
cài những mạng nghĩa của thời đại nó thuộc về. Đây chắc chắn là gợi mở thiết thực
cho giới nghiên cứu và giảng dạy văn học, nhất là văn học nhà trường phổ thông,
tìm đến giải mã nghĩa văn bản văn học không chỉ từ cảm tính chủ quan, mà còn bằng
cả khoa học kí hiệu, một công cụ hình thành thói quen minh định văn bản nghệ
thuật sao cho có sở cứ nhất.
3.
Sinh năm 1947, La Khắc Hòa thuộc thế hệ tiếp nhận “trọn
gói” hệ thống lí luận văn học Xô-viết được dẫn nhập, phổ biến qua nhiều kênh
khác nhau ở miền Bắc vào thập niên 1960-1970. Một thời, không ít người nghiên cứu
coi việc bản thân gặp gỡ, thụ giáo hệ thống lí luận này như cá gặp nước, và họ
sẽ ung dung kéo dài trường tri thức đó cho đến hôm nay. Tuy nhiên, cũng có một
số nhà nghiên cứu, từ giữa thập niên 1980, đã nhận ra những điểm hạn chế, lạc hậu
của hệ thống lí luận văn học HTXHCN.
Là người giảng dạy đại học nhiều năm, có lẽ La Khắc
Hòa cũng từng lâm vào cảm giác “bỏ thì thương vương thì tội” trong khi hướng dẫn
người học hiểu đúng các tri thức lí luận văn học trước đây. Do vậy, thay vì “đoạt
tuyệt” đến mức cực đoan, ông chọn cách hợp lí hơn theo kiểu ôn cố tri tân. Một
mặt, ông khuyến khích học trò thực hiện các luận văn, luận án có sử dụng lý
thuyết hiện đại như diễn ngôn, hậu hiện đại, kí hiệu học...
Mặt khác, ông tự
mình dịch thuật, giới thiệu khá hệ thống một số lí thuyết mà ông tâm đắc, trong
đó, quan trọng và tác động đến giới khoa học nhân văn nhiều hơn cả là kí hiệu học
văn hóa. Các cuốn sách dịch, giới thiệu của ông mươi năm qua như Lý luận văn học
– Những vấn đề hiện đại (2012), Kí hiệu học văn hóa (2015), Lý luận văn học Nga
hậu Xô-viết (2017), đều được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận. Cũng cần nói thêm rằng,
việc ông quan tâm giới thiệu lí luận văn học Nga (thời) hậu Xô-viết hẳn là để
truyền dẫn một thực tế phổ biến: từ sau 1991, “hệ thống lí luận Xô viết chính
thống trở thành hiện tượng lịch sử một đi không trở lại […] hệ hình lí luận văn
học lấy phản ánh luận Mác-Lênin và giai cấp luận làm điểm tựa dường như đã hoàn
toàn biến mất”. Như thế, ngay tại quê hương của văn học HTXHCN, lí luận văn học
chính thống Xô-viết đã mất hết quyền uy, nhường chỗ cho những học giả thế hệ mới
nỗ lực bắt nhịp cùng đời sống khoa học phương Tây. Đặc điểm này cũng có thể
nhìn thấy trong một bộ phận nhỏ những nhà nghiên cứu, lí luận văn học mang tư
duy cấp tiến ở Việt Nam mà La Khắc Hòa là trường hợp bền bỉ.
Nhưng điều khiến tôi thích quan
sát, cảm phục tinh thần lao động chữ nghĩa của La Khắc Hòa là ông luôn thể hiện
sự vui, khoái thú, nhẹ bẫng với từng trang viết nhọc nhằn, khổ công. Học trò ít
khi thấy ông than thở, trách móc bản thân như thường thấy ở những ông giáo hay ưu
tư, mẫn cảm với phận sự làm kẻ sĩ, trí thức ở đời. Còn bạn bè, đồng nghiệp
thì ít bắt gặp ông kiệm lời cho “ra dáng” nhà lí luận hàn lâm. Ở đâu ông cũng
hào hứng chia sẻ, “sô lô” dẫn chuyện và dẫn chứng rất sôi nổi, xôm trò.
Tếu táo không hẳn là “kí hiệu” của ông. Nhưng ông biết
đùa, biết gây cười lẫn “gây sự” để người nghe nghĩ thêm về vấn đề mới, nghĩ mới
về vấn đề cũ. Biết cười, với bậc thức giả, cũng là biết cả mơ mộng, kì vọng và
giới hạn của mình. Nếu không có phẩm chất này thì ông không gắng sức giữa lúc ốm
đau để viết bằng xong chuyên luận Nguyễn Duy, nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực
hành phân tích diễn ngôn văn học). Nguyễn Duy được ông chứng minh là tác giả đi
lệch khỏi dòng mạch văn học HTXHCN mà một biểu hiện rõ nét, theo La Khắc Hòa,
là “giọng hài hước, cảm thương”. Quả là thơ Nguyễn Duy có giọng hài hước, tự giễu
tự trào, thật đích đáng cho người tri âm La Khắc Hòa bộc bạch sở trường của
mình.
Mấy năm nay, trong các sự kiện học thuật khác nhau,
ông thường “bắt cặp” với GS. Trần Đình Sử, sư biểu danh tiếng bậc nhất của Văn
khoa Sư phạm. Hai thầy “tuổi cao tóc bạc cái râu bạc” nhưng vẫn song kiếm hợp
bích trong mỗi tọa đàm, thảo luận. GS. Trần Đình Sử thì tự dịch chuyển ra “đường
biên của lí luận văn học” còn PGS.TS La Khắc Hòa thì vẫn trên “hành trình tái
thiết ngôn ngữ”, những kiểu ngôn ngữ nghệ thuật đã mất, đã hóa thạch theo thời
gian. Ấy nhưng, thầy Hòa vẫn sẵn lòng giao du, đàm đạo với “cánh trẻ”, với lớp
học trò đang tập tọng viết lách nghiên cứu như tôi. Nhưng thật tình, dù tôi có
thêm tí tuổi đầu thì mỗi lần gặp, nghe thầy Hòa bàn luận, tôi vẫn như cậu sinh
viên năm cuối ngày nào chăm chú đón nhận từng điệu bộ, lí lẽ của thầy.
Thời gian không cho tôi được thơ dại mãi song nó cũng
hào phóng để tôi được vỡ vạc đôi điều, vỡ lẽ thêm chút ít nhờ học thầy, đọc
sách thầy. Và đâu đó, giữa những trang sách dồi dào ý tưởng của thầy, tôi lại
nghe tiếng thầy cười vui khoái, như một nguồn năng lượng tích cực, khiến tôi mơ
mộng và cả tin nghĩa lí của văn chương, của nghề dạy mà mình đang tự vận vào.