Thơ Phạm Đình Ân đã khác hẳn với một nhịp 10 năm trước. Không còn "Những cái giật mình" thuở nào, mà nhân tình thế thái được chia sẻ sâu nặng hơn. Và, giờ đây người đọc đã phải "giật mình" vì sự chuyển động mới trong thơ anh. Đó là màu sắc ảo diệu, gây ấn tượng bất ngờ, với những tứ thơ lạ. Đâu đó ta lại gặp "Thắt buộc vào nhân thế/Muôn mặt đời dại khôn/ Còn cái còn mà mất/ Mất cái mất lại còn" (Người trong ảnh), hoặc "Rắc muối vào vô cảm/ Rắc muối vào vô can/ Xót tan lòng muối xát/ Hạt đổ vào vết thương" (Đầu năm mua muối); và đây nữa "Dại gì làm kiếp người/ Sống làm người khó quá" (Phóng sinh)…  Những câu thơ nóng hổi thế sự, mang tính phản biện cao xuất hiện trong thơ anh mỗi lúc một nhiều.



Nhà thơ Phạm Đình Ân với những “Chuyện kế muộn”

VƯƠNG TÂM

Còn nhớ, vào năm 1973, tôi được nhà thơ Đỗ Quang Hưng dẫn đến làm quen với Phạm Đình Ân tại Báo Nhân dân. Khi ấy tôi ngưỡng mộ anh với câu chuyện anh đã đi xe đạp từ Hà Nội vào Vĩnh Linh trong chuyến thâm nhập thực tế để sáng tác nên bài thơ "Đi dọc miền Trung" (in trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam). Từ đó chúng tôi trở thành bạn suốt 45 năm qua...
Bảo vệ Tiến sĩ văn học ở tuổi 61 
Sau 10 năm làm việc ở Báo Nhân dân, anh chuyển sang Báo Văn nghệ, biên chế vào Ban Văn xuôi. Năm 1980, Phạm Đình Ân đã "xếp hàng" tập thơ đầu tiên của mình ở NXB Tác phẩm mới, chờ kế hoạch in. Vậy mà mãi 10 năm sau, khi cơ chế thị trường phát triển, không còn chế độ in bao cấp như trước nữa, Phạm Đình Ân đã phải bỏ tiền ra in (1990). Lần này anh in liền hai tập "Nắng xối đỉnh đầu" (NXB Hội Nhà văn) và "Những hoàng hôn ngẫu nhiên" (NXB Phụ nữ). 
Vậy đó, phải mất 18 năm sau, bài thơ "Đi dọc miền Trung" nổi tiếng mới được in vào tập thơ đầu tiên. Cho dù hơi bị muộn ở tuổi 45, nhưng phải nói tập thơ đầu tiên này, Phạm Đình Ân có những bài thơ độc đáo với tứ mới lạ như "Sợi tóc", "Giấc mơ", "Những cái giật mình", "Cơn gió", hoặc như "Đồng hồ thu thảo", "Một cô gái khác", "Những hoàng hôn ngẫu nhiên"…
Thật bất ngờ, 10 năm sau, anh cho in lại hai tập thơ này với lý do sách lần trước... in xấu và trình bày kém, chữ mờ, giấy đen. Chính vì thế đến năm 2001, hai văn bản thơ mới của Phạm Đình Ân hiện diện với bạn đọc như một sự khẳng định thêm một lần nữa, với những chùm thơ hay về thế sự và tình yêu. Quả nhiên, sau đó dư luận sôi nổi bàn luận về hai tập thơ này.
Anh được nhận mấy giải thưởng về chùm thơ hay trên báo và giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam kết hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Lại có chuyện, trong thời gian làm việc ở Báo Văn nghệ, anh gắn bó với mục "Dọn vườn" cũng dễ đến 10 năm. Cho dù anh là Trưởng ban Lý luận phê bình của báo từ năm 1997, nhưng đây là mục cũng đòi hỏi phải đọc nhiều, hiểu kỹ mới đảm đương được. 
Anh tổ chức viết bài, biên tập hay "dọn vườn" trực tiếp, luôn thể hiện sự hóm hỉnh sinh động và hấp dẫn bạn đọc. Anh còn cho biết, mình đã nghĩ ra tới mươi chuyện mục khác nhau cho báo, chung quanh chuyện nghề và tiểu phẩm… với mục đích hấp dẫn bạn đọc.
Và, nhân dịp "buôn chuyện", Phạm Đình Ân còn cho biết anh cũng phải mất 10 năm chuẩn bị thi, học và bảo vệ luận án Tiến sĩ văn học. Hỏi vì sao lại phải mất tới 10 năm, anh nói toẹt thi trượt ngoại ngữ lần đầu chứ sao. Nói rồi anh cười, sau cũng cố "leo núi" cho đến khi bảo vệ luận văn xuất sắc, với điểm tối ưu về đề tài: "Thế Lữ trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại" - năm 2007. Lúc này Phạm Đình Ân đã bước sang tuổi 61. Tâm sự đến đây, anh tặc lưỡi: "Ôi dào! Đời người được mấy mươi năm. Muốn làm được việc gì thì cố thôi".  
Bước ngoặt đường thơ
Về hưu (năm 2010), nhưng anh vẫn viết báo và sáng tác đều ở cả hai lĩnh vực thơ trữ tình và thơ cho các em. Nếu nói chính xác, anh thường làm thơ cho lứa tuổi nhi đồng. Ngay từ thời còn làm việc ở Báo Nhân dân, anh đã in thơ chung tập với hai tác giả khác từ năm 1978. 
Đó là tập thơ thiếu nhi "Chim khen bé ngoan" (NXB Thanh Hóa). Mãi cho đến năm 1996, anh mới in tập thơ thiếu nhi riêng đầu tiên "Tắc kè hoa" (NXB Kim Đồng 1996). Dường như cũng một thời gian dài anh tập trung viết cho thiếu nhi, nhưng cũng phải 10 năm sau anh mới in tập thứ hai "Đất đi chơi biển" (NXB Văn hóa, 2007). Sự xuất hiện tập thơ thứ hai này của Phạm Đình Ân đã được bạn đọc hồ hởi đón nhận. Đặc biệt là hiệu ứng của tập thơ khá kỳ lạ. 
Có tới mấy vụ đạo thơ của bạn đọc từ tập thơ này. Đó là những bài thơ anh viết về Trường Sa. Anh vui vẻ kể, riêng bài thơ "Quà của bố" (từng được in vào sách giáo khoa) đã bị một người chép lại gửi ra ngoài đảo, với bút danh khác hẳn. Sau đó bài thơ được đăng lên báo tường của đơn vị. Trong một chuyến đi ra đảo, có nhà báo đã chép lại đưa về in trên báo mình. Khi ấy mọi người mới xôn xao về một vụ đạo thơ. Bởi nhiều người đã từng thuộc bài thơ này của Phạm Đình Ân. 
Biết vậy, nhà thơ Phạm Đình Ân chỉ im lặng cười, không lấy đó làm phiền lòng hay đi thưa kiện, hoặc đòi hỏi trả lại cho mình quyền lợi gì. Trong lòng anh chỉ có một niềm vui rằng, thơ đến với bạn đọc là quý lắm rồi, chẳng cần phải rạch ròi làm gì. Thêm một vết gợn cho bạn đọc cũng đem sự phiền muộn mà thôi. 
Và, đặc biệt chỉ 7 năm sau, anh được in liền hai tập thơ, một cho thiếu nhi: "Cao nguyên đá" (NXB Kim Đồng, 2014); và một cho mảng thế sự: "Vòng quay" (NXB Hội Nhà văn, 2014). Nếu tập "Cao nguyên đá" có  số lượng in lớn, tới 31.000 bản thì tập thơ thế sự "Vòng quay" lại gây dư luận khá sôi nổi, với các thi phẩm như "Chuyện kể muộn", "Đầu năm mua muối", "Lạc nhà", hay "Vòng quay", "Mặt mình", "Phóng sinh"… 
Thơ anh đã khác hẳn với một nhịp 10 năm trước. Không còn "Những cái giật mình" thuở nào, mà nhân tình thế thái được chia sẻ sâu nặng hơn. Và, giờ đây người đọc đã phải "giật mình" vì sự chuyển động mới trong thơ anh. Đó là màu sắc ảo diệu, gây ấn tượng bất ngờ, với những tứ thơ lạ. Đâu đó ta lại gặp "Thắt buộc vào nhân thế/Muôn mặt đời dại khôn/ Còn cái còn mà mất/ Mất cái mất lại còn" (Người trong ảnh), hoặc "Rắc muối vào vô cảm/ Rắc muối vào vô can/ Xót tan lòng muối xát/ Hạt đổ vào vết thương" (Đầu năm mua muối); và đây nữa "Dại gì làm kiếp người/ Sống làm người khó quá" (Phóng sinh)…  Những câu thơ nóng hổi thế sự, mang tính phản biện cao xuất hiện trong thơ anh mỗi lúc một nhiều. Đó là những đột biến của 10 năm gần đây, với giọng điệu trầm buồn và không kém phần xao xác nỗi suy tư.  
Những niềm vui màu hồng
Tôi thêm một lần ngạc nhiên vì bản tính chất phác và tinh tế của nhà thơ Phạm Đình Ân; khi anh bất chợt đưa cho tôi xem bộ sưu tập gồm hàng trăm ảnh chân dung các nhà văn nhà thơ được lưu giữ hơn 40 năm qua. Tôi bồi hồi ngắm lại những chân dung người thầy và các anh chị mà tôi đã từng tiếp xúc như nhà văn Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Đình Thi, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt…Còn nữa, bên cạnh đó là bút tích của những nhà văn quá cố nổi tiếng mà nhà thơ Phạm Đình Ân đã gìn giữ thông qua công việc và giao lưu bài vở. Đây là những tư liệu quý không mấy ai có. 
Nhưng vẫn chưa hết, tôi thực sự thú vị và thán phục nhà thơ, khi anh còn trong tay mấy chồng thiếp mời đám cưới của bạn bè, bà con và đồng nghiệp. Không chỉ những thiếp anh được mời mà còn của những người khác mà anh đã cất công sưu tập được. Tất cả đều màu đỏ hồng tạo nên sự ấm áp của tình thân mỗi khi giở ra xem. Biết bao kỷ niệm ùa về với nhà thơ. 
Tôi đoan chắc từ đây có những tứ thơ ra đời. Bởi lẽ đó là tấm lòng nặng trĩu tình cảm trong anh. Có lẽ thế chăng, tôi chợt nhớ đến bài thơ "Sợi tóc" của anh. Hình ảnh một kỷ vật "sợi tóc" được nhà thơ sáng tạo: "Em đã tặng tôi sợi tóc của em/ Rồi ngày tháng vèo trôi, em không nhớ nữa". Sau nửa thế kỷ, chàng trai năm xưa tìm về đã tặng lại người yêu khi tóc đã bạc trắng. Thơ viết: "Năm mươi năm sau/ Khi tìm được về chốn cũ/ Tôi gặp một bà già tóc bạc/ Bà chẳng biết tôi/ Tôi tặng bà sợi tóc/ Bà khóc/ Sợi tóc vẫn còn đen". 

Một tứ thơ hay và độc đáo. Với những thiếp hồng cũng vậy. Tôi ước đến một ngày nào đó, mọi ký ức tươi sáng tràn về và những thi phẩm mới của Phạm Đình Ân sẽ đến với bạn đọc như một tri ân đẹp mà mọi người vẫn chờ đợi từ thơ anh.