Bài mới

Số phận văn chương thời 4.0 mang dự cảm buồn thương?


Trong cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Văn Giá thổ lộ: “Tôi là người không thuộc típ người lạc quan. Buồn và thất vọng về đời sống này nhiều thứ. Cái buồn nhất là đất nước đổ vỡ về văn hóa, đổ vỡ tận nền tảng. Các giá trị, các thiết chế, các di sản truyền thống bị mai một, bị làm tiền, bị dung tục hóa, bị giải thiêng, bị biến tướng…Nghĩa là rất nhốn nháo. Thêm nữa, những vấn đề tưởng như vĩ mô nhưng lại đánh động tâm can mình rất mạnh, vì nó động chạm tới chính sách phát triển quốc gia, vấn đề chủ quyền đất nước, vấn đề quan lại và tham nhũng…Đây là thời cực kỳ hỗn loạn, thời mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp hay nói là “thời mạt pháp, thời vô đạo”. Lỗi này do toàn bộ sự vận hành xã hội hơn 70 năm nay đã tạo ra”.



SỐ PHẬN VĂN CHƯƠNG THỜI 4.0

Nguyễn Tham Thiện Kế (NTTK): Thưa TS, ông sở hữu không gian đô thị biến động, đã bao giờ xài tiện ích smartphone sử dụng dịch vụ Uber, Grab… chưa? Trong cảnh huống đó, ông ngẫm ngợi hay dấy lên cảm xúc nào không trước những công ty taxi không xe, khách sạn không phòng tầm cỡ toàn cầu?
Văn Giá (VG): Mấy thứ ấy tôi đã và đang sử dụng. Tội gì mà lại nói không với chúng. Nó là thành tựu vĩ đại của nhân loại. Mình không sử dụng thì thôi chứ đừng chê bai nó, đổ lỗi oan cho nó. Vấn để là con người sử dụng và làm chủ nó như thế nào mà thôi. Đúng là nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại, cảm giác về không gian/thời gian đã khác. Nó biến thế giới thành cái làng toàn cầu như người ta vẫn thường hay nói. Bảo có mất gì không, có chứ, nhưng được là chính, được rất nhiều. Thí dụ tôi với ông cả năm có gặp nhau bao giờ đâu, nhưng cũng chả thấy xa nhau, do thỉnh thoảng vẫn gọi điện cho nhau, gửi mail, “chát chít” với nhau. Cái công nghệ truyền thông hiện đại đã tạo nên cái cảm giác ấy. Và như vậy, quan niệm về thời gian, không gian đã và sẽ luôn thay đổi. Nó kéo theo các quan niệm và giá trị khác. Nhưng cũng cần phải nói thêm điều này: công nghệ luôn luôn thuộc về người trẻ, mà chúng ta thì không thuộc về nữa. Khả năng làm chủ và ứng dụng công nghệ của chúng ta đã chậm so với bọn trẻ rồi. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta quay lưng với nó. Nó cần được ủng hộ để phát triển.

NTTK: Năm 2016, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải thưởng Nobel Văn học cho ca sĩ, nhạc sĩ Bob Dylan vì đã "tạo ra những biểu đạt thi ca mới bên trong truyền thống âm nhạc vĩ đại của Mỹ". Ông có bị “choáng” bởi chiều kích quan niệm về văn học đã “open”hết cỡ? Đằng sau sự kiện này có một “câu chuyện thời đại”, ông có thể kể lại “câu chuyện” đó theo ngôn ngữ nghề nghiệp của mình không?
VG: Tôi có một ông thầy, Giáo sư có uy tín chuyên nghiên cứu, giảng dạy và dịch thuật văn học phương Tây, lạ lắm, cụ không hề phục Giải Nobel văn học. Cụ cho rằng: Giải này mang quan niệm của một nhóm người, chưa thể nói đủ tư cách đại diện cho các giá trị cao nhất của văn học. Vả lại, không ít lần, giải mang màu sắc chính trị, tôn vinh những giá trị ngoài văn học…Vị Giáo sư bảo: Giải Nobel văn học nếu mà tổ chức như tranh cúp bóng đá, từ thấp lên cao, qua các vòng tuyển, công khai minh bạch thì mới có sức thuyết phục. Tôi không hẳn đồng ý với ý kiến của Giáo sư, nhưng tôi lắng nghe như một ý kiến tham khảo.
Với giải thưởng văn học cho Bob Dylan, ban đầu tôi cũng hơi shock, song ngẫm lại thì thấy rằng từ đây gợi lên mấy điểm: 1)Văn học ngày hôm nay không còn tự trị trong thế giới của chính nó, mà nó được hóa thân, thậm chí vong thân vào trong các thể loại/loại hình nghệ thuật khác, khi đó không phải là tác phẩm văn chương hiểu theo nghĩa đen lên ngôi, mà là tính văn chương lên ngôi; 2) Tuy nhiên, cho dù có vong thân/hóa thân bằng mấy, thì loại hình nghệ thuật ngôn từ như một cơ sở nền cũng không thể mất đi, hay bị xóa sổ; nó phải còn được là nghệ thuật ngôn từ, nơi ngôn từ lên tiếng, ngôn từ phải là chân mệnh. Ca từ của Bob Dylan mang phẩm tính thi ca, nhiều trường hợp là những bài thơ đấy chứ. Xét theo nghĩa đó, Trịnh Công Sơn cũng là một nhà thơ đích thực.

NTTK: Ngoài nghiên cứu, ông còn hoạt vụ truyền thụ kiến thức văn học cho các học trò vài thập kỷ. Đã bao giờ ông hình dung sẽ có một ngày phải thay đổi cách thức giao tiếp giữa thầy với trò với những nội dung cũ nhưng được tích hợp các tiện ích của công nghệ hay chưa ?
VG:Phải tương thích chứ ông. Thí dụ bây giờ nhiều khi tôi chấm bài, góp ý bài vở, tác phẩm cho học trò là qua email; kể cả công việc, giao dịch, tâm tình qua email, chat bằng computer, smartphone trên các giao diện của Viber, Facebook…hết. Nhưng có một điều đáng quan tâm là công nghệ thông tin đã can thiệp tổng thể để tạo ra một tâm thế chỉ thích viết ngắn/đọc ngắn. Điều này vừa hay vừa không. Hay ở chỗ nếu tạo ra cái viết/đọc ngắn đích đáng. Còn không hay ở chỗ là không muốn viết/đọc những cái viết dài hay, chứ không phải cái dài dở. Cái dở thì ngắn/dài đều có.

NTTK: Học trò của ông hiện nay có ai thuộc lòng Truyện Kiều không? Và tỉ lệ nào đó trong số họ có đọc các tiểu thuyết cổ điển nặng như viên gạch vồ như thời chúng ta vẫn đọc từ thế kỷ trước?
VG: Tôi có thể khẳng định là hầu như không. Tôi cũng không thuộc lòng hết được. Nhưng khi gặp những tình huống, tâm trạng nào trong đời sống thực tại, thì lại rất hay nhớ Kiều, thậm chí lẩy Kiều. Hóa ra Truyện Kiều nó phục sẵn trong ta để tương tác, ứng nghiệm. Cái việc thuộc lòng truyện Kiều là quý, nhưng thuộc lòng cũng chưa nói lên điều gì. Ngày xưa, đọc và truyền khẩu là phương tiện truyền thông duy nhất, nên người ta mới thuộc lòng, kể cả một số người không biết chữ. Chứ nay thì khác. Con người ta có biết bao phương tiện truyền thông trong tay, cần là có Google ngay, nên họ cũng chả cần phải nhớ. Dĩ nhiên, tôi vẫn đánh giá cao những người thuộc lòng Kiều.
Tôi vẫn mừng vì có một số sinh viên vẫn đọc những tác phẩm cổ điển , tuy số này không nhiều. Và xét trên đại lượng tổng quát, thì việc đọc sách văn học cổ điển trong sinh viên, kể cả sinh viên ngành văn giảm đi trông thấy. Cho nên, khi thấy trong tay đứa sinh viên nào khư khư “Chiến tranh và hòa bình”, “Anh em nhà Karamazov”, “Vụ án”, “Lâu đài”…tự nhiên thấy lòng xúc động lắm, thấy chúng đáng yêu hẳn lên.

NTTK: Ông đang chịu trách nhiệm đào tào những nhà văn nhà thơ, kể từ ngày ông đảm nhận công việc đó, đã bao nhiêu sinh viên của ông trở thành nhà văn, nhà thơ? Sinh viên nào khiến ông tự hào? Sinh viên nào được ông yêu quí? Nhà văn, nhà thơ có thể đào tạo như phương thức hiện nay nhà trường đang thực hiện không ? Phải chăng đây là kiểu “trại viết đặc biệt” ?
VG: Chuyện này tôi, và không chỉ tôi, các tiền nhiệm của tôi từ thời còn là Trường Viết văn Nguyễn Du, như thầy Hoàng Ngọc Hiến đã từng nói nhiều lần rằng nơi chúng tôi không có ảo tưởng đào tạo ra các nhà văn, mà chúng tôi chỉ đào tạo ra những người viết văn thôi; còn sau này họ muốn trở thành nhà văn chuyên nghiệp hay không tùy thuộc vào tài năng và sự khổ luyện của chính họ. Có một số ý kiến bạn đọc, kể cả một số người trong giới phản đối việc đào tạo viết văn, cho rằng nhà văn không đào tạo được. Chúng tôi quá hiểu điều ấy chứ. Chỉ có điều họ không chịu hiểu chúng tôi. Trường chúng tôi chỉ có thể cố gắng làm được mấy việc sau: 1)Trang bị một nền tảng tri thức bậc đại học về văn chương, về một số ngành khoa học XH và NV có liên quan; 2) Trang bị một ý thức làm nghề chuyên nghiệp, chứ không phải chỉ dựa vào năng khiếu có tính bản năng thuần túy; 3) Tạo điều kiện cho học viên gặp gỡ các nhà văn, nhất là những nhà văn nổi tiếng; các nhà trí thức, nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực bổ trợ văn chương để học hỏi; Và 4) giúp học viên viết văn ý thức sâu sắc về tự do, sự sáng tạo, tính cách trí thức, tinh thần khai phóng, biết theo đuổi những giá trị cao quý.
Nếu hiểu nhà văn theo nghĩa cứ phải mang danh Hội viên Hội NVVN, thì ở chỗ tôi, chỉ tính từ khóa 8 (khi tôi mới về làm Chủ nhiệm khoa, 2007) cũng đã có một số như Đoàn Văn Mật, Nguyễn Mạnh Hùng, Lữ Thị Mai. Nhưng tôi e hiểu như thế không ổn lắm. Nên hiểu nhà văn là những người viết chuyên nghiệp, đã tạo lập được uy tín bước đầu trong nghề. Hiểu thế, chúng tôi có thể kể ra rất nhiều gương mặt trẻ đang góp phần vào diện mạo văn học trẻ của đất nước: Đinh Ngọc Hùng, Cấn Vân Khánh, Hồ Huy Sơn, Nguyễn Văn Học, Vi Văn Choồng, Vũ Thị Huyền Trang, Hoàng Chiến Thắng, Du Nguyên, Trung Long, Phạm Thị Thanh Thúy, Vũ Thị Thanh Huyền, Đinh Phương, Tru Sa, Nguyễn Thị Kim Nhung, Nguyễn Thị Luyến, Nguyễn Văn Toan, và nhiều cây bút khác…Trong số này đã có nhiều cây bút đoạt giải cao trong các cuộc thi thơ/truyện ngắn của tạp chí VNQĐ, báo Văn nghệ.
Sinh thời, thầy Hoàng Ngọc Hiến nói một câu rất hóm, nghĩ vẫn có phần đúng: Trường viết văn cũng tựa như cái chuồng gà, cứ đem nhốt tất cả các con gà lại, thế là chúng đua nhau gáy”. Ý thầy muốn nói, một môi trường tốt sẽ có khả năng truyền cảm hứng, đánh thức tiềm năng cho mọi cá tính sáng tạo.

NTTK: Một năm ông có bao nhiêu giờ thỉnh giảng? Bài viết ưng ý nhất của ông gần đây là gì? Và nếu không phiền, thì ông có thể “khoe” sở trường nghiên cứu văn học của mình không?
VG: Giờ giảng tại trường tôi phải hoàn thành theo đúng quy định, hơn 200 tiết. Còn lại, thỉnh thoảng tôi có thỉnh giảng ở một vài trường Đại học khác khi họ mời. Đi giảng dạy được hiểu như một niềm vui. Tuy nhiên, giảng nhiều cũng mệt lắm. Có khi nó vắt kiệt sức, chả còn tâm sức và thời gian đâu mà nghiên cứu, viết lách nữa. Tôi là cái anh vừa làm nghiên cứu phê bình, vừa sáng tác. Cũng là do tham lam mà ra cả. Hướng nghiên cứu phê bình của tôi vẫn là hướng phê bình thi pháp học, nghĩa là chỉ ra những đóng góp độc đáo của mỗi nhà văn thông qua thế giới nghệ thuật của nhà văn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến cái lý của hình thức nghệ thuật (mang tính quan niệm). Tôi mong muốn tập trung nghiên cứu, phê bình vào đối tượng là thế hệ những người cùng thời.

NTTK: Văn học Âu –Mỹ- Nga bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước, song song với dòng văn học hư cấu (Fiction) đã ồn ào trào lưu phi hư cấu (Non-fiction) như tự truyện, chân dung, du ký của những chính khách, nghệ sĩ, doanh nhân, hoặc những nhân vật nổi tiếng bình dân thành những sản phẩm văn hóa mang tính thương mại hiệu quả. Còn ở VN, thực trạng văn học phi hư cấu đang ở thời đoạn nào thưa ông? Phải chăng, con người càng tiến tới trạng thái ảo của khoa học kỹ thuật thì trong văn chương người ta càng cầu tới chữ chân?
VG: Ở Việt Nam, chưa bao giờ văn học phi hư cấu lại mạnh mẽ như ngày hôm nay. Xã hội càng bức xúc, càng đòi hỏi tính công dân của văn nghệ sĩ, tức là ý thức dấn thân, trách nhiệm xã hội của mỗi nghệ sĩ và của mỗi tác phẩm. Vì thế, một khi văn học hư cấu không đủ mạnh để thể hiện tinh thần đó thì văn học phi hư cấu lại càng bùng phát như một đảm nhiệm cần thiết. Dĩ nhiên, cả hai không thể thay thế nhau được. Cả hai đều cần trong mọi nền văn học. Lý do văn học phi hư cấu hiện đang phát triển, ngoài việc đáp ứng ý thức công dân như vừa nói ở trên, còn có lý do ở chỗ văn học hư cấu đang rơi vào tình trạng giả dối, cạn cợt, vu vơ, làm mầu nhiều quá. Bộ phận văn học phi hư cấu tự nó có ý nghĩa chống lại sự giả dối của văn học hiện thời. Cũng còn có lý do nữa, như ông nói là sự đối thoại với thế giới ảo của công nghệ kỹ thuật số. Nhưng đây là lý do thứ yếu.

NTTK: Hiện nay, trí tuệ nhân tạo có thể làm thơ, vẽ tranh, viết những đoạn văn, dịch thuật. Ông có lo ngại công việc của văn nghệ sĩ có thể mai một. Phần vì bạn đọc ngày một ít đi phần vì sự phát triển hàm số của công nghệ hay không?
VG: Tôi thấy không đáng phải lo lắng. Về chỉ số thông minh, công nghệ 4.0 có thể thay thế được nhiều phần việc của con người. Nhưng có ba thứ, robot không thể làm được, đó là: ký ức, cảm xúc và cá tính độc đáo. Đấy là những chỗ để cho văn chương/nghệ thuật tồn tại.

NTTK: Hiệu quả việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương phụ thuộc to lớn vào năng lực đọc của toàn xã hội. Nhưng từ trước đến nay, Tây cũng như Đông. Đọc vẫn là nhu cầu tự sinh của mỗi cá nhân. Ai cần đọc gì thì tìm nấy. Còn kỹ năng đọc ra sao, như thế nào là phụ thuộc việc của các thầy truyền thụ…Cái sự đọc hiện nay và nay mai sẽ thế nào ông nhỉ?
VG: Không một người làm nghề viết văn nào lại quay lưng với việc đọc. Đọc là cách để người viết nạp thêm năng lượng sáng tạo. Anh không đọc, sẽ không biết người ta đã có những gì, đã làm được những gì, đã sai lầm những gì để mà rút ra những bài học cho mình. Đọc đối với người trong nghề được hiểu như một việc cần phải. Còn trong tương lai, đối với công chúng, tôi cũng không dám chắc điều gì. Không có văn học, có thể con người sẽ cằn cỗi, nghèo nàn về nhân tính, nhưng con người không chết. Trong khi đó, xã hội đang vận hành theo hướng ngày càng thực dụng.

NTTK: Với những diễn giải văn học và cách học văn trong những năm gần đây từng là nguyên cớ để đại chúng bàn nhiều trên mạng xã hội. Ông có cho rằng đó là điều diễn tiến tự nhiên cần thiết, không thể tránh hay là không nên có?
VG: Bàn bạc trên mạng là chuyện hay chứ. Nó thể hiện một đời sống dân chủ trong xã hội. Các ý kiến khác nhau được cọ xát, từ đó sinh ra ý tưởng mới. Vả lại, các ý kiến mang tinh thần phản biện là luôn luôn tốt, để những người có trách nhiệm phải suy nghĩ thấu đáo và điều chỉnh theo hướng tốt nhất có thể. Miễn là các ý kiến phản biện phải thể hiện trách nhiệm của mình và chỉ với mục đích vì sự tiến bộ.

NTTK: Tôi thấy mấy đệ tử chân truyền của Nguyễn Đăng Mạnh thì chỉ ông và Chu Văn Sơn là “quèo” thêm phần sáng tác. Chu Văn Sơn thì tùy bút, Văn Giá có truyện ngắn. Ông cảm xúc thế nào về văn tùy văn ( chữ của Nguyễn Linh Khiếu ) Chu Văn Sơn và Văn truyện của mình? Văn hóa miền sông Thương có vị trị đặc biệt nào trong văn xuôi của ông không ?
VG: Chắc chắn văn hóa vùng Kinh Bắc thượng nằm trong máu của tôi rồi. Nó làm nên cấu trúc tinh thần, quy định những gì quan tâm tha thiết nhất của tôi đối với đời sống. Đây là vùng không gian quan họ, tuy không phải là vùng lõi. Đặc biệt đây là vùng chùa chiền dày đặc, trung tâm của Phật giáo. Dân tình thì nghèo, chủ yếu làm nông nghiệp, ít nghề thủ công, không biết buôn bán. Nhà tôi ở ven bờ sông Thương. Cả thời trẻ con tắm táp, chơi đùa, ngụp lặn, ăn nước song Thương. Có lần vào mùa lũ, do mải bơi ra xa vớt củi, suýt chết đuối, may mà có người cứu. Đây là con sông thủy triều, quanh năm hiền hòa, tĩnh lặng, đẹp đẽ, nhưng đến mùa lũ trở nên hung dữ. Nó cũng lấy đi không ít mạng người làng tôi, trong đó có cả em gái tôi, cháu ruột của tôi. Mỗi lần về làng, đi qua sông, tôi buồn lắm…Tất cả những thứ đó, chắc chắn rồi, đều quyện vào các trang văn của tôi theo những cách nào đấy. Thí dụ tôi thích loại văn xuôi có nhịp điệu. Hình như hơi nghiêng về phía tính thủy/âm tính thì phải.

NTTK: Cách mạng Công nghiệp Thứ tư "Industrie 4.0" đang làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Người trẻ ngày càng tìm kiếm thế giới tinh thần ở những nhánh giải trí mang có tính công nghệ cao. Và hầu như người già, người trung niên lại tìm đến văn chương ngày một đông hơn. Vậy sự thách thức đối với nền văn học đặc thù Việt Nam đương đại và tương lai gần là những nguy cơ cụ thể nào, với một thể trạng khiêm tốn nên văn học Việt sẽ thích ứng ra sao ngõ hầu để có thể phản ánh một phần nào đó tinh thần thời đại vốn là nhiệm vụ của nó? Thưa ông.
VG: Trong một số tiếng nói có màu sắc bi quan, họ cho rằng có thể vài chục năm nữa văn học còn biến mất nữa kia. Lại nghe nói hiện giờ một số nước trong các trường phổ thông, không cả học môn văn nữa. Nhưng tôi nghĩ, văn chương cũng giống các lĩnh vực khác, nó vẫn tồn tại, vẫn làm bận tâm một số đông nhân loại, trong khi một số đông khác vẫn thờ ơ. Âu cũng là chuyện tất yếu. Dĩ nhiên, trong tư cách nhà văn, vốn nặng tình với văn chương, thấy văn chương mất giá cũng buồn chứ.
NTTK: Hiện thời ông có hài lòng với công việc của mình không? Đối với ông điều gì thuộc về đời sống hiện tại khiến ông thất vọng? Và điều gì quan trọng nhất với một nhà nghiên cứu văn học như ông? Ông có thấy cảm văn chương đang bị công nghệ đang “chèn ép” cả thể xác và tâm hồn của nó ?
VG: Tôi là người không thuộc típ người lạc quan. Buồn và thất vọng về đời sống này nhiều thứ. Cái buồn nhất là đất nước đổ vỡ về văn hóa, đổ vỡ tận nền tảng. Các giá trị, các thiết chế, các di sản truyền thống bị mai một, bị làm tiền, bị dung tục hóa, bị giải thiêng, bị biến tướng…Nghĩa là rất nhốn nháo. Thêm nữa, những vấn đề tưởng như vĩ mô nhưng lại đánh động tâm can mình rất mạnh, vì nó động chạm tới chính sách phát triển quốc gia, vấn đề chủ quyền đất nước, vấn đề quan lại và tham nhũng…Đây là thời cực kỳ hỗn loạn, thời mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp hay nói là “thời mạt pháp, thời vô đạo”. Lỗi này do toàn bộ sự vận hành xã hội hơn 70 năm nay đã tạo ra.

NTTK: Một người mơ mộng trong sự tài hoa, sắc sảo ẩn dưới nhu mỳ như ông, đã bao giờ vẽ tự bức tranh thân phận văn chương nước Việt trong mười, mười lăm năm nữa. Viễn kiến cho một bức tranh theo ý ông thì phải cần những yếu tố nào nhi ? Ông có lo sợ cho tương lai 4.0?
VG: Tôi không có một đoán định nào. Nhưng thời nay, theo quan sát của tôi, phải là thời của văn xuôi mới đúng. Có lẽ mới đang là thời của non -fiction. Phải chờ một sự lắng đọng cần thiết mới có thể tạo ra những văn xuôi fiction tầm vóc như mong muốn. Cái anh nhà văn có một điều rất mâu thuẫn: Nhiệt tình công dân thì rất cần, nhưng nếu nhiệt tình công dân lại lấn át nhiệt tình nghệ thuật, thì có khi lại ra tác phẩm non, ít có giá trị, khi đó chỉ còn là tác phẩm chống tiêu cực chẳng hạn. Cho nên, giải quyết được vấn đề này một cách êm trôi là cực khó. Còn tương lai 4.0 phải nghĩ về điểm chính của nó là tốt. Chỉ khi nào con người lợi dụng khoa học để chống lại loài người, chống lại những giá trị phổ quát của nhân loại mới đáng sợ. Ví dụ nhân bản vô tính người, hay dùng robot để xâm lược, để giết người… chẳng hạn.
                  
Nguồn: Tinh Hoa Việt


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

LÊ THIẾU NHƠN Designed by @ Copyright 2018

Hình ảnh chủ đề của Bim. Được tạo bởi Blogger.