Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” tuy không phải trường ca
nhưng cũng có dung lượng khá dài. Được đề từ “Gửi những người Hà Nội đi xa”,
bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” như những thước phim quay chậm về một nỗi ám ảnh “Khuôn
mặt ai dừng trong khung cửa”. Thi sĩ Phan Vũ bộc bạch về hoàn cảnh ra đời bài
thơ trở thành thương hiệu cá nhân: “Tháng Chạp năm 1972, khi B-52 của Mỹ bắn
phá Thủ đô với lời hăm he “đưa Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá”, tôi khởi viết những
câu đầu tiên: Em ơi! Hà Nội phố... Ta còn em, mùi hoàng lan, ta còn em,
mùi hoa sữa... Điệp từ “ta còn em...” được lặp lại trong từng đoạn của bài
thơ. “Ta còn em...” là còn những hoài niệm yêu thương của tôi về Hà Nội mà
đôi lần khi trong trạng thái cần nương tựa, an ủi, tôi lại tìm về.”
PHAN
VŨ
ĐÃ LÀM LÀNH CÁNH CHIM TRỜI XA XỨ
LÊ THIẾU NHƠN
Năm
nay, thi sĩ Phan Vũ đã bước qua tuổi 92, và là nhân vật cao niên nhất trong
làng thơ còn tại thế. Thi sĩ Phan Vũ tài hoa và đào hoa, nên sự thăng trầm của
cuộc đời ông gần như không tránh khỏi. Ông từng viết kịch và đạo diễn, hoạt động
ở cả sân khấu lẫn điện ảnh, nhưng cuối cùng công chúng chỉ nhớ ông với tư cách
một thi sĩ phiêu lãng: “Gã - xòe tay che một đời mưa/ Một đời nắng chân trần
rát bỏng/ Sợi thòng lọng trên đầu phận số/ Chênh vênh bờ vực lối đi về”
Rời nơi chôn nhau cắt rốn Hải Phòng, chàng trai 20
tuổi Trần Hồng Hải vào bộ đội và lấy bút danh Phan Vũ để làm công tác văn nghệ ở
miền Nam. Năm 1954, Phan Vũ quay lại miền Bắc để bắt đầu dan díu với thi ca. Bài
thơ khởi nghiệp “Bình vỡ” viết năm 1956 thảng thốt: “Chỉ còn màu xanh trong từng
mảnh nhỏ/ Sao đâu đây phảng phất mùi hương thơ ngây”. Giai đoạn trai trẻ nhiệt
huyết “Ta lại xếp mớ hành trang đã bao lần xếp lại, cho chuyến đi chưa có buổi
lên đường”, giấc mộng thơ phú của Phan Vũ chủ yếu xoay quanh nỗi hoang mang: “Đã
làm lành cánh chim trời xa xứ/ Đành theo vòng lượn mịt mù khơi/ Đêm quá dài giấc
mơ chẳng đến/ Một trống không ôm mãi vòng tay…/ Đi dưới mưa tưởng là nắng đổ/ Ngồi
trong phòng như đợi sân ga/ Chưa ra đi sao đã nhớ nhà/ Ngoảnh mặt lại thấy đời
đã lỡ!”. Chân dung thi sĩ Phan Vũ bất ngờ hiện rõ khi bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố”
được viết trên căn gác nhỏ phố Hàng Bún vào cái ngày bàng hoàng Thủ đô chìm
trong mưa bom.
Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” tuy không phải trường ca
nhưng cũng có dung lượng khá dài. Được đề từ “Gửi những người Hà Nội đi xa”,
bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” như những thước phim quay chậm về một nỗi ám ảnh “Khuôn
mặt ai dừng trong khung cửa”. Thi sĩ Phan Vũ bộc bạch về hoàn cảnh ra đời bài
thơ trở thành thương hiệu cá nhân: “Tháng Chạp năm 1972, khi B-52 của Mỹ bắn
phá Thủ đô với lời hăm he “đưa Hà Nội trở lại thời kỳ đồ đá”, tôi khởi viết những
câu đầu tiên: Em ơi! Hà Nội phố... Ta còn em, mùi hoàng lan, ta còn em,
mùi hoa sữa... Điệp từ “ta còn em...” được lặp lại trong từng đoạn của bài
thơ. “Ta còn em...” là còn những hoài niệm yêu thương của tôi về Hà Nội mà
đôi lần khi trong trạng thái cần nương tựa, an ủi, tôi lại tìm về.”
Bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” gồm 23 đoạn thơ. Mỗi đoạn
thơ đều được trợ hứng bằng câu chủ chốt “Em ơi, Hà Nội phố”, trừ đoạn thơ thứ
13 và đoạn thơ thứ 20. Đoạn thơ thứ 13 được đặt tên “Riêng về một chuyến đi” phản
ánh một không khí cách mạng: “Con tàu chở những người lính. Về phía Nam vào trận
đánh. Chở theo những căn phố, những con đường/ Chở nguyên Hà Nội nhớ? Với những
vết môi hôn”. Đoạn thơ thứ 20 được đặt tên “Riêng về một tháng Chạp” trình bày
nỗi tang thương chiến tranh hủy diệt: “Tháng Chạp/ Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu
hoa/ Đã có tên/ Trong vòng hoa tưởng niệm/ Một tháng Chạp/ Trắng khăn sô/ Khói
hương dài theo phố…”. Nếu bài thơ “Em ơi, Hà Nội phố” chỉ do chính Phan Vũ đi đọc
trọn vẹn 443 câu cho bạn bè thưởng thức giữa những cuộc tụ bạ nghiêng ngả thì
có lẽ tính phổ biến của “Em ơi, Hà Nội phố” không được như hôm nay. Năm 1986,
nhạc sĩ Phú Quang đã lẩy ra vài câu trong các đoạn thơ thứ 1, 2, 3, 7, 10, 20,
21 và 23 để phổ thành ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố”. Phải thừa nhận, nhạc sĩ Phú
Quang đã tinh tường chọn được những câu tiêu biểu nhất và có sự chau chuốt thêm
để ca từ mềm mại theo giai điệu.
Ngoài những câu được đưa vào ca khúc “Em ơi, Hà Nội
phố”, phần còn lại của 15 đoạn thơ kia như thế nào? Đoạn thơ thứ 8 cũng có giá
trị như một bài thơ hoàn chỉnh: “Em ơi Hà Nội phố! Ta còn em khuya phố mênh
mông/ Vùng sáng nhỏ/ Bà quán ê a chuyện nàng Kiều/ Rượu làng Vân lung linh men
ngọt/ Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa/ Ngơ ngẩn bao chàng trai Kẻ Chợ/ Cơn say
quá dài thành một cơn mê”. Có không ít đoạn thơ trong “Em ơi, Hà Nội phố” la đà
kể lể, nhưng thỉnh thoảnh bật lên những câu ấn tượng. Đoạn thơ thứ 10 giàu chất
điện ảnh: “Ta còn em một tên thật cũ Cổ Ngư/ Chiều phai nắng/ Càng phưọng vĩ la
đà/ Bông hoa muộn in hình ngọn lửa”. Đoạn
thơ thứ 15 phác họa một bức tranh phong cảnh trầm mặc và run rẩy: “Ta còn em đường
lượn mái cong/ Ngôi chùa cổ/ Năm tháng buồn/ Xô lệch ngói âm dương”. Đoạn thơ
thứ 18 nhận diện sự thay đổi trên mảnh đất ngàn năm văn hiến: “Ta còn em một
Hàng Đào không bán đào/ Một Hàng Bạc không còn thợ bạc/ Đường Trường Thi không
chõng không lều, không ông nghè bái tổ vinh qui”. Đặc biệt, đoạn thơ thứ 21 có
hai câu thể hiện đầy đủ sự ngổn ngang và sự mất mát của Hà Nội cuối năm 1972,
mà giá trị hoàn toàn vượt trội ca từ “Em ơi, Hà Nội phố” về mặt nhận thức thẩm
mỹ: “Một mình giữa bóng chiều sa/ Tha hương ngay trước cửa nhà mẹ cha”.
Cũng với mạch nguồn cảm xúc “Em ơi, Hà Nội phố”, thi
sĩ Phan Vũ có bài thơ “Ngày trở về” viết năm 1975: “Ngày trở về mưa hoài trên đại
lộ/ Những bộ hành không nón không dù/ Một con đường chia thành trăm ngả/ Về ngả
nào cũng lạc, cũng bơ vơ”. Năm 1990, thi sĩ Phan Vũ vào định cư tại Sài Gòn và
không ngần ngại bày tỏ mơ ước viết cho đô thị sầm uất nhất phương Nam một bài
thơ dài có sức lan tỏa tương đương “Em ơi, Hà Nội phố”. Đáng tiếc, thi ca lắm
lúc giống như món quà của định mệnh, không thể cưỡng cầu bằng kinh nghiệm và nỗ
lực. Mất 10 năm cặm cụi, từ 1998 đến 2008, thi sĩ Phan Vũ viết “Bài thơ về một
câu hỏi” với ngôn từ mạnh mẽ không thua kém một bài xã luận nồng nàn: “Những
người ngã xuống hôm qua/ Với câu hỏi hôm nay cho thành phố: Bao giờ Sài Gòn trở
thành một trung tâm đô thị văn minh? Bao giờ Sài Gòn không còn cảnh lầm than
đói khổ? Câu hỏi quay trong vòng lửa/ Như ngày nào/ Yêu thương cháy dở/ Tôi viết
bài thơ về một giấc mơ/ Như một kinh cầu siêu độ”.
Sau thời thăng hoa “Em ơi, Hà Nội phố”, thi sĩ Phan
Vũ có hai cơn cớ để làm thơ là hai người phụ nữ ơn nghĩa phu thê với ông: Phi
Nga và Diễm Chi. Từ năm 22 tuổi đã nổi tiếng với vai Hoài trong bộ phim “Chung
một dòng sông”, diễn viên Phi Nga tiếp tục tỏa sáng qua các bộ phim “Vật kỷ niệm”,
“Trên vĩ tuyến 17”, “Rừng O Thắm”, “Vợ chồng anh Lực”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”…
Sau khi đám cưới với thi sĩ Phan Vũ được 2 năm và sinh cho ông 2 người con, thì
diễn viên Phi Nga phải rời khỏi màn ảnh vì căn bệnh tim bẩm sinh. Rồi một lần
tai biến đã khiến diễn viên Phi Nga phải nằm một chỗ. Thi sĩ Phan Vũ đã chu đáo
và ân cần chăm sóc người vợ đau ốm suốt 20 năm, cho đến khi bà qua đời ở tuổi
49. Ngày vợ mất, thi sĩ Phan Vũ viết bài thơ “Đã có lần anh nói thương em” với đề
từ “Gửi theo hương hồn Phi Nga” nhiều day dứt: Câu nói buồn hơn tiếng khóc/ Nước
mắt vẫn là chút trống không/ Hòn đá nhỏ lăn vào vô định/ Lời chì chiết tội
tình/ Giữ lại mãi trong anh”. Một thập niên sau, thi sĩ Phan Vũ viết bài “Tháng
vỡ” vào năm 1995 với đề từ “Lại gửi theo Phi Nga” vẫn đầy bịn rịn hình bóng cũ:
“Tờ lịch chia thành từng tháng vỡ/ Vô nghĩa ngày xuân hay tháng hạ”. Đến năm
2000, thi sĩ Phan Vũ có thêm bài “Tưởng như” với đề từ “Gửi theo Phi Nga” chất
chứa hoài niệm: “Tưởng như em vẫn nằm trên đệm cỏ/ Căn phòng ghi dấu giấc mơ
xưa/ Những mùa thu cây bàng đổ lá/ Vàng khung cửa sổ/ Anh sống hôm nay nửa ảo nửa
đời/ Chiêm bao ban ngày đôi mắt mở…”.
Còn người vợ thứ hai Diễm Chi, lại mang đến cho thi
sĩ Phan Vũ một thiên tình sử đáng trầm trồ. Từ vai trò một đồng nghiệp với cô
con gái Việt Nga của thi sĩ Phan Vũ, nhà báo Diễm Chi đã gặp gỡ và phỏng vấn
tác giả “Em ơi, Hà Nội phố”, để rồi nảy nở duyên nợ ba sinh. Năm 1998, thi sĩ
Phan Vũ viết ba bài thơ có chung một cách đề từ “Của Diễm Chi”. Đó là bài thơ “Sự chồi sinh của nỗi nhớ” ngỡ
ngàng hạnh phúc: “Em ra đi không khép cửa/ Cơn gió lạc vào căn phòng trống/ Mây
mù báo hiệu mưa khuya/ Anh nhặt cánh hoa khô trên nền ẩm/ Sự khao khát cồn cào
nổi lên trong nín lặng/ Từ lâu cái hũ nút chặt/ Cho những mầm xanh khờ khạo lên
men/ Như một kho tàng chôn dưới đáy sâu ngôi cổ mộ”. Đó là bài thơ “Đợi một mùa
sau” náo nức điềm lành: “Thời tiết yêu chợt mưa chợt nắng/ Phần riêng em một trận
gió cuồng/ Lặng lẽ em vào khu rừng cấm/ Khai quật nỗi niềm/ Bới tìm lõi đá/ Nào
ngờ tình yêu chỉ là mảnh vá/ Ngày ngày đắp đổi cơn đau”. Và đó là “Chân dung
em” nâng niu đồng hành: “Ta vẽ em/ Ngơ ngơ đối mắt dại/ Mê man đón đợi cuộc
tình đầy”. Năm 1999, thi sĩ Phan Vũ và nhà báo Diễm Chi tổ chức đám cưới, khi
chàng 73 tuổi và nàng 37 tuổi.
Thi sĩ Phan Vũ từng hăm hở theo đuổi loại hình nghệ
thuật khác, nhưng ông bất ngờ rẽ vào thơ và ở lại với thơ. Dù thi sĩ Phan Vũ
hơi hứng thú với kiểu dàn dựng chi tiết và câu cú, nhưng thơ cũng cho ông những
khoảnh khắc để khám phá bản thân. Qua thơ, công chúng mới hiểu trọn vẹn vui buồn
của ông. Bài thơ “Tôi vẽ” viết năm 1996, thi sĩ Phan Vũ thổ lộ: Tôi vẽ mặt hề/
Trong những cuộc tình vô vọng/ Một tôi đích thực”. Bài thơ “Độc hành” viết năm
1997, thi sĩ Phan Vũ khắc khoải: “Người ấy đi một mình/ Khuôn mặt chia hai nửa/
Một nửa đầy mặt trời/ Một nửa ngả hoàng hôn/ Ngày qua không khác hơn/ Tháng năm
dài lặp lại”. Bài thơ “Tự họa” viết năm 2001, thi sĩ Phan Vũ thở dài buông bỏ:
“Gã – con ngựa quên hiệu còi khởi chạy/ Phi thật nhanh nhưng chệch đường đua/
Ngày ra đi một kẻ dại khờ/ Ngày trở về da mồi tóc bạc/ Nguyên xi thằng khờ dại/
Gã – đừng giữa ngày tàn chiều tận/ Trên thân đau nếm đủ lằn roi/ Đòn hội chợ của
đám đông không thù oán/ Khi cô đơn chính là hình án/ Giữa chợ trời còn rao bán
tài hoa”.
Thi sĩ Phan Vũ có phước đắc thọ để thấy được sau
hành trình lạnh lùng của thời gian, thì mình vẫn được định danh với thơ. Thi sĩ
Phan Vũ hiểu rằng, ít ai còn nhớ ông từng viết kịch bản “Lửa cháy lên rồi” hoặc
kịch bản “Dòng sông âm vang”, và cũng ít ai nhớ ông từng đạo diễn bộ phim “Bí mật
thành phố cấm” hoặc bộ phim “Như một huyền thoại”, nhưng nhiều người nhắc đến
ông bước chầm chậm giữa làng thơ bằng phong cách đa tình: “Tôi là chiếc phi
thuyền/ Trong không gian mắc nợ/ Cả cuộc đời mắc nợ những câu thơ/ Những vì sao
không bao giờ đến được/ Còn tình em hoài hoài xin khất nợ”./.