Một bậc đại công thần của Đảng, một người “khổng lồ” của nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại, với những công lao đóng góp ít người bì kịp, trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng, không hề nhắc đến những đóng góp công lao mà chỉ xin thứ tha cho những “lỗi lầm”, “dối lừa”, “khoác lác”, “nhiều lần ác” của mình.


 

NGUYỄN ĐÌNH THI: "TÔI GỬI LẠI ĐÂY THÌA KHÓA"

NGUYỄN THẾ KHOA

Tôi vẫn nhớ mãi lần cuối cùng được gặp Nguyễn Đình Thi ở sân 51 Trần Hưng Đạo HN (trụ sở Liên hiệp các hội VHNTVN) đầu năm 2003. Khi ấy, dù đã bước sang tuổi 80, Nguyễn Đình Thi vẫn còn đẹp lắm tuy trong nụ cười của ông đã thoáng nét ưu tư. Tác phẩm mới nhất của ông, tập thơ “Sóng reo” xuất bản cuối năm 2001, một tác phẩm tài hoa trong trẻo và chân thành, làm chúng ta hiểu rằng vẫn có thể chờ đợi những sáng tạo mới của tài năng nghệ thuật rất lớn này. Vậy mà, thật bất ngờ, chỉ mấy tháng sau, 16 giờ 45 phút ngày 18/4/2003, Nguyễn Đình Thi đã lặng lẽ dứt áo ra đi...

Rồi hôm nào bỗng gió bay

Cái bóng ngoài kia đến đợi

Anh giật mình đứng dậy

Đến giờ rồi hôm nay

Trên tay cốc nhỏ không đầy

Uống chúc bạn bè ở lại

Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm

Quên cho những dối lừa khoác lác

Tôi biết tôi đã nhiều lần ác

Và ngu dại còn nhiều lần hơn...

(Gió bay)

Trong tập thơ “Sóng reo”, Nguyễn Đình Thi đã hơn một lần chuẩn bị lời chia tay với cuộc đời bằng những câu thơ thanh thản, chân thành và nhiều ân hận như thế. Đó là những câu thơ khi đọc lên, chúng ta không thể không ứa nước mắt kính trọng nhân cách của người viết. Một bậc đại công thần của Đảng, một người “khổng lồ” của nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại, với những công lao đóng góp ít người bì kịp, trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng, không hề nhắc đến những đóng góp công lao mà chỉ xin thứ tha cho những “lỗi lầm”, “dối lừa”, “khoác lác”, “nhiều lần ác”...của mình.

Với không ít người Việt Nam, Nguyễn Đình Thi, từ lâu, đã là một huyền thoại. Người thanh niên gốc Hà Nội đẹp trai, tài hoa, sinh ở Luang Prabang (Lào) năm 1924, khi về quê hương Hà Nội học ở Trường Luật đã là sinh viên luật xuất sắc nhất Đông Dương, được chính phủ Pháp chọn đưa sang Pháp để đào tạo thành một viên chức trong bộ máy cai trị. Nhưng Nguyễn Đình Thi đã từ chối vì từ năm 17 tuổi ông đã hoạt động bí mật chống Pháp cứu nước trong mặt trận Việt Minh. Đến năm 20 tuổi ông đã là thành viên của Uỷ ban Giải phóng dân tộc do cụ Hồ làm Chủ tịch và trực tiếp là thủ lĩnh của Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam.

Bài nói chuyện ở ngày hội sinh viên tại Hà Nội năm 1944, với nhan đề “Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tich” có tác dụng thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên Việt Nam về lòng tự hào dân tộc. Ngay từ những ngày tháng Tám 1945, vị thủ lĩnh trẻ tuổi ấy đã được giới văn hóa văn nghệ cả nước coi như một tài năng lớn, một trí tuệ lớn hiếm có của đất nước, người ta đã gọi Nguyễn Đình Thi là ông "Lục lăng”. Ông từng là đại biểu Quốc hội khóa 1 trẻ nhất và được cử vào Ủy Ban Thường trực Quốc hội.

Ở tuổi 18, Nguyễn Đình Thi đã viết đến 6 cuốn sách về triết học phương Tây, một điều mà các trí thức lớn, uyên bác về triết học cũng chưa dám làm. Những bài viết: “Kịch Bắc Sơn”, “Nhận đường”, “Tiếng nói của văn nghệ”, “Mấy ý nghĩ về thơ”, “Trần Đăng”, “Nam Cao”, “Nhà văn viết bằng cái gì”...từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp làm Nguyễn Đình Thi trở thành nhà lý luận xuất sắc đầu tiên của nền văn nghệ mới. Hai ca khúc “Diệt phát xít” và “Người Hà Nội” đã trở thành hai ca khúc bất hủ của âm nhạc cách mạng Việt Nam, riêng Người Hà Nội mặc nhiên được coi là bài hát hay nhất mọi thời đại về thủ đô đất nước.

Nguyễn Đình Thi là người đi đầu trong việc tạo ra một hình thức mới, một giọng điệu mới phù hợp với thời đại mới của thơ ca với các tập thơ tạo nên một đỉnh cao trong thơ ca đất nước như “Người chiến sĩ”, “Bài thơ Hắc Hải”, “Dòng sông trong xanh”, “Tia nắng”, “Trong cát bụi, “Sóng reo”... Với 10 vở kịch: “Con nai đen”, “Hoa và Ngần”, “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”, “Giấc mơ”, “Tiếng sóng”, “Rừng trúc”, “Người đàn bà hóa đá”, “Hòn cuội”, “Cái bóng trên tường”, “Trương Chi”...

Nguyễn Đình Thi là nhà viết kịch giàu trí tuệ sáng tạo nhất của sân khấu Việt Nam, mỗi vở kịch của ông khi được dựng đều trở thành một sự kiện sân khấu, một sự kiện xã hội khó quên trong lịch sử văn hóa đất nước. Nguyễn Đình Thi từng tâm sự rằng kịch là nỗi tâm huyết lớn nhất, những nỗi đau nhức nhối nhất và là một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của đời ông. Còn với “Xung kích”, “Vào lửa”, “Mặt trận trên cao”, “Vỡ bờ”...

Nguyễn Đình Thi là một trong những người đặt nền móng cho nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại Việt Nam...Có thể nói, trong một thời gian rất dài, là một trong những người lãnh đạo văn nghệ chủ chốt và đặc biệt là với những thành quả lao động sáng tạo đầy sức chinh phục của mình, Nguyễn Đình Thi đã có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển, thành tựu cũng như han chế chung của nền văn nghệ đất nước...

Nhưng con người đã đạt được gần như tất cả những quang vinh ở đời, nhân vật rất lớn của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại, một trong những nhà văn Việt Nam có ảnh hưởng nhất trên thế giới, lại ý thức rõ sự gắn bó sâu xa, sự nhỏ bé, hữu hạn của mình trước cuộc đời, trước nghệ thuật và trước nhân dân, đất nước.

Từ những năm kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đình Thi đã từng nói đến sự gắn bó máu thịt của tình yêu lứa đôi với đồng đội, đồng chí. Từ năm 1949, năm ông 25 tuổi, trong bài thơ “Em bảo anh” viết tặng cho văn sĩ Pháp Ma - đơ - len Rip – phô, người tình của ông, Nguyễn Đình Thi đã có những câu thơ gan ruột và mới mẻ bất ngờ:

Em bảo anh: Nếu chỉ có đôi ta

Thì có yêu nhau cũng không sống được

Em bảo anh: Khi chúng ta nằm bên nhau

Thì bao đồng chí đang nằm hầm sâu

Em bảo anh: Mỗi vết bùn chúng ta mang trên mặt

Trong mắt người yêu biến thành nước mắt

Và mỗi tia lửa vút bay lên cao

Trong mắt người yêu biến thành trời sao

Đến năm 1990, khi ông 65 tuổi, trong bài thơ “Sen biếc” nhớ danh hoạ Dương Bích Liên, ý thức về gắn bó máu thịt, sự nhỏ bé hữu hạn của mình trước đồng chí, đồng đội, nhân dân, đất nước của Nguyễn Đình Thi lại càng sâu sắc, thấm thía:

Gió dữ thổi không ngừng

Tôi đi mãi vẫn lạ

Cái đẹp làm cho mỗi vật không cùng

Tôi đã có

Những ngày ánh sáng

Giữa cõi sống cõi chết

Lắm nỗi gieo neo

Và lạnh...

Tôi là ai nhỉ

Một chút trắng hồng dào dạt vàng

“Một chút trắng hồng dào dạt vàng”, hình như đó cũng là cách Nguyễn Đình Thi tự đánh giá bản thân mình trong sự không cùng của cái đẹp. Hơn thế nữa, với ông, thành công, danh vọng cuối cùng cũng là những phù phiếm nhất thời, chỉ những yêu thương mới là đích thực, vĩnh cửu.

Vài năm trước khi về cõi vĩnh hằng, ông đã thử “Từ bên ấy trông về”, và thấy:

Từ bên ấy trông về

Đốm nắng vàng kia

Và mỗi lá cỏ

Nói với anh biết bao điều

Trông về từ bên ấy

Những gì anh thu vén bấy lâu

Những gì anh chăm chăm giành giật

Nào mang theo được gì đâu

Chỉ những niềm yêu của anh

Như mạch nước không ai thấy

Mỗi ngày nuôi anh lặng lẽ.

(Từ bên ấy trông về)

Những câu thơ, những bài thơ trên giúp chúng ta hiểu Nguyễn Đình Thi đã từng không được là mình, đã từng bị tha hóa bởi những tham sân si khi sống. Đó là khi ông quên mất "những niềm yêu” của ông “như mạch nước không ai thấy" để “chăm chăm” “thu vén”, “giành giật”, để phạm bao “lỗi lầm”, để phải “dối lừa”, “khoác lác”, “nhiều lần ác” một cách thật tội lỗi, đáng khinh ghét. Nhưng không như nhiều người khác, Nguyễn Đình Thi đã dám nói thẳng ra những “phần tối” như thế của đời mình ngay khi đang ở trên đỉnh cao danh vọng, không chỉ như công khai bày tỏ một tỉnh ngộ mà còn muốn trao lại cho hậu thế một chiếc chìa khóa giúp họ tránh phạm những sai lầm đau đớn như ông:

Mong anh em hiểu đừng cười

Tôi gửi lại đây thìa khóa

Tất cả cửa nhà tôi đó

Ngổn ngang qua tạm cuộc đời

(Gió bay)

Nguyễn Đình Thi khổng lồ vì ông luôn thấy mình bé nhỏ, nhiều lầm lỗi, và vì ngay trong tình cảnh dưới "vực sâu" ông vẫn có thể "cứu kẻ trên bờ" (thơ Chế Lan Viên), bằng sự thành thực rất đáng kính trọng…

Với Nguyễn Đình Thi, cái đẹp, sau cùng, luôn đồng nghĩa với cái thật là vậy!