Nhà thơ Bằng Việt ở tuổi 85 được trao tặng Giải thưởng lớn của “Giải thưởng Bùi Xuân Phái- Vì tình yêu Hà Nội” năm 2026. Thêm một dấu son để ghi nhận một cuộc đời thi ca gắn bó mảnh đất ngàn năm văn hiến.
Nhà thơ Bằng Việt nhẹ nhàng và trầm tĩnh, đúng kiểu tri thức Hà Nội. So với những nhân vật cầm bút từng được “Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” như Tô Hoài, Hoàng Quốc Hải, Hữu Ngọc, Giang Quân… thì nhà thơ Bằng Việt có phong cách khác hẳn. Ông thong dong chức tước hơn và thân thuộc quan trường hơn. Sau hai nhiệm kỳ làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội từ năm 1991 đến năm 2000, ông tiếp tục ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2016.
Được đào tạo ngành Luật ở Liên Xô, nhà thơ Bằng Việt công tác ở Ủy ban Khoa học Xã hội trước khi chuyển sang Nhà xuất bản Hội Nhà văn, rồi thăng tiến trên con đường lãnh đạo. Ban tổ chức “Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” năm 2026 khẳng định tôn vinh nhà thơ Bằng Việt không chỉ vì những sáng tác thơ mà còn vì những công trình nghiên cứu, biên khảo về lịch sử, văn hóa như “Kẻ sĩ Thăng Long”, “Kinh đô Rồng - Từ truyền thống thượng võ đến chủ nghĩa anh hùng”, Tủ sách “Thăng Long nghìn năm văn hiến”…
Liệt kê thành tích thì phải bày biện mâm bát tươm tất, chứ nghiên cứu hay biên khảo đều không phải sở trường của nhà thơ Bằng Việt. Thứ định hình đầu tiên và cái còn lại sau cùng của nhà thơ Bằng Việt, vẫn chỉ là thơ. Ngoài làm thơ, ông cũng có biệt tài dịch thơ. Nhiều bài thơ của Eptusenko, Ritsos, Raxun Gamzatop… nhờ ông chuyển ngữ mà tiếp cận rộng rãi công chúng Việt Nam.
Thơ Bằng Việt phổ cập sâu đậm trong xã hội với “một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Bài thơ “Bếp lửa” được ông viết khi đang du học ở Kiev năm 1963: “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu/ Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả/ Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở/ Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?”. Được đưa vào sách giáo khoa, bài thơ “Bếp lửa” sáu thập niên qua đã góp phần bồi đắp lẽ sống cao thượng cho nhiều thế hệ “nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi/ nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui/ nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”.
Không có nhiều đột phá về cấu trúc và ngôn ngữ, thơ Bằng Việt vận hành một tiếng nói chừng mực, một ánh mắt cẩn thận, một nét buồn e dè. Trong những tập thơ của Bằng Việt, từ “Đất sau mưa”, “Khoảng cách giữa lời”, “Cát sáng” đến “Phía nửa mặt trăng chìm”, “Ném câu thơ vào gió”, “Hoa tường vi”… đều mang giọng điệu hoa mỹ từ tốn của một người Hà Nội. Vì vậy, không khó để tìm ra “một chút thầm thì trong tình yêu Hà Nội” suốt lộ trình thơ Bằng Việt: “Nơi hò hẹn ban đầu, ta chẳng thể nào quên/ Bao từng trải về sau càng gắn liền ta lại/ Thành phố của tình yêu tươi mới mãi/ Nơi cuối cùng lắng lại, hóa hồn tôi”.
Hà Nội trong thơ Bằng Việt luôn dạt dào tin yêu, ngay cả những ngày bom đạn: “Hà Nội phi thường trong sức sinh sôi/ Bền bỉ phân thân khắp miền đánh giặc/ Mỗi xúc động không ồn ào, mỗi đổi thay không choáng ngợp/ Nhưng hiểu được sức ngầm chỉ thoáng chốc nhìn nhau/ Tuổi thơ qua đây còn ấm cúng rất lâu/ Hàng cây rợp, mùa đông không trụi lá/ Hương sen trải suốt Hồ Tây mùa hạ/ Vị cốm tan vào không khí đầu thu”. Bởi ông xác định vị thế “Đất này Thăng Long -Hà Nội” rất rõ ràng: “Thành phố đã nghìn năm, không dễ dãi buồn vui/ Không dễ dãi bằng lòng, không dễ dãi buông mình thổ lộ/ Nhưng giữa sức trẻ bao quanh, tôi biết được điều này rất rõ/ Mỗi suy nghĩ ở đất này đều nhắm đích tương lai”.
Hà Nội hòa bình được nhà thơ Bằng Việt ngắm nhìn ở những góc hẹp mơ màng, lúc “Nghe trong trưa Bát Tràng” bất chợt: “Thấm thía tình làng qua lắm đổi thay/ Buổi trưa bình thường bỗng khiến tôi bỡ ngỡ/ Hoa cau rơi vào chum nước cổ/ Đàn sẻ bay lách chách đầu hồi/ Và những ấm chuyên, chén, tách, bát, nồi/ Chum với vại, lọ với bình... mộc mạc/ Nằm khô ráo, gió thổi vào như hát/ Tình yêu đời – như tự đất ca lên”, hoặc lúc nhớ “Sen Hồ Tây” ngậm ngùi “Anh đi mười năm trở lại/ Làng hoa biến mất như đùa/ Ví thử hồ sen cạn nốt/ Làm gì cho thấy ngày xưa?”.
Trong sự nghiệp thơ Bằng Việt, ông luôn biết cách “Trò chuyện với thành phố của đời mình” để bắt nhịp hồn vía Hà Nội: “Thành phố vui buồn của một đời/ Ở đây, chúng ta yêu nhau và có thể đã xa nhau/ Nhưng thành phố vẫn đằm gương mặt ấy.../ Ở đây, tôi đã đọc, đã quên, đã buồn khổ rồi hy vọng/ Đã lo lắng rồi yêu tin/ Đã khinh bạc bản thân mình, rồi rộng mở với anh em/ Để lại tìm ra mình trong bước đi chan hoà tập thể/ Cây cầu bắc cheo leo qua hai bờ tuổi trẻ/ Tôi với bạn bè đều vượt qua, ở chính nơi đây/ Thành phố nuôi lớn bao lớp người, bao ước vọng mê say/ Nhưng thành phố vẫn đằm gương mặt ấy”.
Quê quán ở Chàng Sơn, Thạch Thất (bây giờ là xã Tây Phương, thành phố Hà Nội) nên nhà thơ Bằng Việt tích cóp đủ mọi vui buồn Hà Nội vào năm tháng cuộc đời, để ông thành một chứng nhân của Hà Nội chuyển động không ngừng. Ông tự nhủ “Thôi hãy khoan ngậm ngùi/ Những gì chưa dễ có/ Thôi hãy khoan ruồng bỏ/ Những gì chưa dễ qua”, nhưng ông vẫn lặng lẽ truy vấn được mất cho riêng mình. Độc giả sẽ hiểu thêm được ít nhiều về duyên phận thi ca của nhà thơ Bằng Việt, qua hai chia sẻ khá chân thành.
Ở tuổi lục thập, ông bộc bạch: “Tất cả những điều tôi viết ra trong đời đều chân thật, xuất phát từ cảm xúc chân thành. Và vì thế không bao giờ tôi phải ân hận hoặc xét lại những gì mình đã từng thổ lộ và công bố, cho dù trong cuộc đời này chúng ta đã đi qua bao giai đoạn thử thách nghiệt ngã, đến độ ở giai đoạn sau ta có thể phải hối tiếc hoặc xấu hổ những gì ta đã làm và đã nói ở giai đoạn trước. Tôi mừng rằng cuộc đời tôi là một tiến trình thống nhất, logic, không có quãng nào gãy khúc. Mối quan tâm sâu sắc nhất của tôi trong đời là hạnh phúc con người. Những gì tôi nghiền ngẫm, tâm niệm đều xuất phát từ ao ước cháy bỏng: làm sao để con người có hạnh phúc”.
Còn ở tuổi bát thập, ông thổ lộ: “Lòng tin và sự hướng thiện vào cuộc đời trong tôi chưa bao giờ bị mất đi. Nhưng sự bung ra, vỡ ra sau 50 năm cầm bút là sự chiêm nghiệm rằng, không nên và không thể khuôn ngòi bút của mình về một hướng chỉ ca ngợi cái đẹp hoặc mặt nhân hậu của cuộc sống, mà phải tính cả đến những giây phút chùng lại, lắng xuống, những dằn vặt, chua cay... Vì ngay cả những ngang trái chưa thể hoàn chỉnh kia cũng vẫn là đời, cũng vẫn cần người nghệ sĩ chia sẻ, đồng cảm, góp phần giải đáp”.
Sau khi nghỉ hưu, nhà thơ Bằng Việt dành nhiều thời gian hơn cho thơ, và thơ ông cũng nhiều trắc ẩn hơn, như ông quan niệm: “Thơ càng sắc, càng kiêu, càng chớ màng bất tử/ Miễn đừng để loài người hèn hạ, tối tăm đi”. Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội góp thêm một dấu son cho sự thành đạt của nhà thơ Bằng Việt. Ông từng được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2003 và được vinh danh Công dân Thủ đô Ưu tú năm 2013.
Thơ Bằng Việt và đời Bằng Việt song hành một cách ung dung. Nhà thơ Bằng Việt có những câu thơ chinh phục đám đông, theo lối triết luận “Đất nước từng trải nhiều, nên đất nước chẳng đăm chiêu/ Nụ cười các lão nông vẫn nụ cười quảng đại/ Đất nước chẳng đăm chiêu vì đất nước nhiều từng trải/ Vai áo sờn không chịu gánh thần linh”. Và nhà thơ Bằng Việt cũng có những câu thơ hé lộ ưu tư, theo lối tự sự: “Những ý nghĩ phù du như bóng sáng/ Thoắt bay qua, thoắt chạy đến vô cùng/ Thơ chưa chín, quên đi, đầu đã bạc/ Em một thời, ngó lại, đã hư không/ Nhanh quá thế, mà cũng buồn quá thế/ Chớp mắt xong, là đã một đời người/ Day dứt lắm, bao điều từ tuổi trẻ/ Chưa kịp làm, hẹn đó, để rồi thôi/ Lại muốn trở về khát vọng thiên nhiên/ Quên hết mọi ưu tư từ sách vở/ Để hoà nhập với những gì chưa có/ Cần một thời sau nữa của mình chăng?”.
LÊ THIẾU NHƠN


