"Bóng chữ" có lúc được nhìn nhận như tác phẩm hậu hiện đại, có lúc lại được đặt ở ranh giới giữa hiện đại và hậu hiện đại. Nhưng qua phân tích, chúng tôi nhận thấy, các tính chất được miêu tả dao động lẫn nhau. “Em” vừa thực, vừa ảo, vừa có mặt, vừa vắng mặt trong tâm trí “anh”. Sự dao động này biến “anh” từ tính chất thành phẩm chất lớn hơn rất nhiều về mặt nghĩa.
LÊ ĐẠT BẮT CHỮ MANG THÂN PHẬN NGƯỜI
THY SINH
Bóng
chữ
Chia
xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
Lê
Đạt
Góc nhìn từ ngôn ngữ
Lê Đạt là nhà thơ có ý thức lao động
chữ nghĩa nghiêm túc khi sáng tác, ông từng phát biểu “Chữ bầu lên nhà thơ”. Vì
thế, khi nghiên cứu Bóng chữ, chúng tôi tiến hành khảo sát khái niệm “chữ” của
Lê Đạt từ ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ là chất liệu để ông biến các từ loại
thành “chữ” của riêng mình.
Ở góc độ quan sát được, chúng tôi
nhận thấy nhiều tính từ có tính chất gần nghĩa và/hoặc đồng nghĩa với nhau, ví
dụ như: ‘đẹp’, ‘xinh xắn’, ‘dễ thương’ có chung nghĩa là ‘đẹp’ nhưng ‘xinh xắn’
có tính chất vừa gần với ‘đẹp’ nhưng lại nhấn mạnh hơn về nhỏ bé, hoặc “dễ
thương” cũng mang một phần nghĩa của ‘đẹp’ nhưng lại phản ánh sắc hơn về tính
thiện cảm. Ngược lại ‘đẹp’ cũng mang trong nó phần của ‘xinh xắn’ và ‘dễ
thương’ nhưng chú trọng hơn ở mặt toả sáng.
Từ quan sát trên, chúng tôi nhận
thấy các tính từ gần nghĩa với nhau tự thân chúng đã có thể làm bóng cho nhau.
Tính chất bóng này cũng được tìm thấy trong danh từ thông quan hệ bao hàm và
liên tưởng.
Trong ngôn ngữ thơ, tính chất bóng
được thể hiện rõ nét nhất ở tính từ và danh từ. Bởi vì, nghệ thuật chỉ lấy ngôn
ngữ làm chất liệu nên ta vẫn thấy các bài thơ viết về ‘mẹ’ nhưng hiện lên bóng
là ‘quê hương’ và ngược lại. Tự thân ngôn ngữ đã có tính chất bóng lẫn nhau còn
ngôn ngữ thơ, tính chất ấy được các nhà thơ tưởng tượng, sáng tạo thêm theo
cách mà chỉ nghệ thuật mới có thể làm được.
Cơ chế nghệ thuật
Bóng chữ là tác phẩm hiếm hoi của
thơ ca vận dụng tính chất bóng của ngôn ngữ để khắc hoạ con người là hai thực
thể trữ tình “anh” - “em”. Tứ thơ khá đơn giản là ‘anh nhớ em’, hay ‘anh đợi
em’. “Em” được mô tả là “thơ thiếu nhỏ”. Các tính từ “thơ”, “thiếu”, “nhỏ” tự
thân làm bóng cho nhau. “Em” vừa như là thơ, vừa mang nét thiếu thời, lại vừa
nhỏ nhắn. “Thiếu” vừa là bóng của “thơ” vừa tạo thêm nghĩa cho “thơ” đến lượt
“nhỏ” vừa mang nghĩa của “thiếu” vừa bổ sung cho “thiếu” ở tính chất kích cỡ.
Không dừng lại ở tính bóng tự thân của ngôn ngữ, tác giả còn mở rộng đặc tính
ấy để “em” hiện ra rõ nét hơn. Chữ “nhỏ” không chỉ làm bóng cho chữ “thiếu” mà
nó còn làm bóng cho cả hai chữ trước nó là “thơ thiếu”. Hay nói cách khác, bóng
của “thơ thiếu” chính là “nhỏ”.
Lúc này trường nghĩa lại mở ra cho
người tiếp nhận về hình ảnh “em”. Sự chồng bóng (bóng của bóng) là sáng tạo độc
đáo của riêng Lê Đạt. Cái mà “anh” nhìn thấy “em” không phải là một tính chất
mà nhiều tính chất được pha trộn, lồng ghép và trượt nghĩa khi các chữ đã làm
bóng của nhau rồi lại chồng bóng lên nhau nữa.
Các tính từ trong cụm “thơ thiếu
nhỏ” không được ngắt bằng dấu phẩy làm cho câu thơ có nhiều cách đọc. Chúng tôi
thử đọc bằng các cách ngắt nhịp kiểu dưới đây để thấy sự biến đổi:
Như một / thời thơ thiếu nhỏ
Như một thời / thơ thiếu nhỏ
Như một thời thơ / thiếu nhỏ
Như một thời thơ thiếu / nhỏ
Các cách đọc ở trên khiến câu thơ bị
trượt nghĩa mang các sắc thái khác nhau nhưng vẫn neo được hình ảnh “em” là “thơ thiếu nhỏ” như
là “bản gốc” về “em”.
Cơ chế nghệ thuật này cũng được thể
hiện trong ký ức hình thể về “em”: “Em về trắng đầy cong khung nhớ”. Nếu như
“em” được nhìn “thấy” là “thơ thiếu nhỏ” thì ký ức lại được vẽ bằng “trắng đầy cong”. Vừa thực, vừa ảo, có
thể gợi liên tưởng đến cơ thể “em” ở nghĩa nhục cảm, hoặc một vầng trăng trắng
đầy thương nhớ, Tuy cùng cơ chế nghệ thuật với câu thứ hai, nhưng “trắng đầy
cong” lại bị giới hạn bởi danh từ “khung nhớ”. Dù cách đọc và ngắt nhịp có thay
đổi thế nào thì vẫn nằm trong “khung nhớ”:
Em về / trắng đầy cong khung nhớ
Em về trắng / đầy cong khung nhớ
Em về trắng đầy / cong khung nhớ
Em về trắng đầy cong / khung nhớ
Mặc dù bị giới hạn bởi “khung nhớ”
nhưng cái “khung nhớ” ấy lại kéo dài qua nhiều “mùa” mưa và mùa “thu”. Ở đây, chữ “độ” được dùng thay cho chữ
“mùa”. Khoảng trắng trước câu “mây mấy độ thu” tạo ra sự lệch về thị giác với
câu trước đó, diễn tả cái chênh vênh khi vắng “em”.
Miêu tả “em” và ký ức về “em” qua
bóng của các tính từ thì cái vắng “em” lại được miêu tả bằng bóng của danh từ.
“Vườn thức” chính là bóng của “anh”, “hoa đi vắng” chính là bóng của “em”, còn
“mùi” như là dấu vết, là sinh khí của “em” để lại. Hay nói cách khác “mùi”
chính là bóng của “hoa đi vắng”. Cái ảo làm bật lên cái thật khiến tác giả phải
buột miệng hỏi “Em vẫn đây mà em ở đâu”. Câu hỏi không có dấu hỏi, hỏi là để
nhắc lại cho mình biết rằng mình vẫn
đang vắng em.
Hai câu cuối là hai câu khó giải mã
nhất, vì nhân vật trữ tình “anh” hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết. “Anh”
chỉ được gọi ra một lần duy nhất ở câu đầu tiên, và thể hiện bằng bóng của
“anh” ở chữ “Vườn thức” mà thôi. Vậy phải tìm “anh” để bài thơ thành một chỉnh
thể vì đã có hình ảnh “em”, ký ức “em” và cái vắng “em” nhưng “anh” càng lúc
càng mất hút. Tại sao?
Chúng tôi phải truy tìm “anh” bằng
cách tiếp cận từ hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất là từ ngôn ngữ và hướng
thứ hai từ địa danh Âu Lâu.
Hướng thứ nhất, từ ngôn ngữ, chúng
tôi nhận thấy rằng, nếu danh từ riêng Âu Lâu viết thường, câu thơ sẽ là “Chiều
âu lâu”. Lúc này, “âu lâu” là một tính từ có thể được ghép giữa “âu lo” và
“lâu”. Điều này hoàn toàn nhất quán với tâm thế của “anh” trong bài thơ. Vì
“anh” nhớ “em”, nhớ đến cả đường nét hình thể “em” và cảm nhận được cái bóng
của “em” vẫn lẩn khuất đâu đây, nên lo lắng, âu lo cho “em” suốt thời gian dài
(Mưa mấy mùa / mây mấy độ thu) là hoàn toàn phù hợp. Nhưng Lê Đạt không dừng
lại ở đó, bằng một thao tác nghệ thuật với chữ, ông biến tính từ “âu lâu” thành
danh từ riêng “Âu Lâu”. Có thể nói, đây là một thủ pháp nghệ thuật thượng thừa
của bậc kỳ tài văn chương.
Hướng thứ hai, giả sử Lê Đạt lấy cảm
hứng từ chính địa danh Âu Lâu quê ông để viết Bóng chữ, và Âu Lâu thuần túy là
danh từ riêng chỉ một địa danh cụ thể? Chúng tôi cho rằng, ngay cả khi giả
thiết này là đúng. Lê Đạt vốn là người hiểu rõ cơ chế tự thân của ngôn ngữ là
chúng có thể làm bóng cho nhau. Thậm chí, kỹ thuật chồng bóng được ông sử dụng
nhuần nhuyễn ở trên cho thấy ông hiểu rất rõ cách tạo bóng cho chữ qua tính từ
và danh từ. Điều này chứng minh cơ chế tạo bóng mà chúng tôi phân tích ở hướng
thứ nhất vẫn hoàn toàn hợp lý. Từ lập luận vừa nêu, chúng tôi cho rằng dù danh
từ riêng “Âu Lâu” có là địa danh thật hay chỉ là thao tác nghệ thuật thì cả hai
hướng tiếp cận cũng đều chấp nhận được, không hề mâu thuẫn hay triệt tiêu nhau
mà còn bổ sung cho nhau.
Việc chuyển âu lâu (tính từ mang
tính chất của “anh”) thành “Âu Lâu” (danh từ riêng) đã tạo bước chuyển lớn
trong nghệ thuật. Từ đây “âu lâu” không chỉ là tính chất của “anh” khi chờ đợi
“em” mà đã trở thành danh từ riêng “Âu Lâu” định danh cho anh. Từ tính chất trở
thành thân phận “anh”. “Âu Lâu” vừa là bóng của tính từ “âu lâu” nhưng mang
nghĩa rộng hơn, lớn hơn. Danh từ riêng “Âu Lâu” lại chính là bóng của “anh”.
Cái bóng ấy mạnh đến mức làm “động chân
cầu”. Chân cầu là bộ phận gắn liền với cầu, cầu mang biểu tượng của sự kết nối.
Nhưng cái bóng “Âu Lâu” hay nói rõ hơn là thân phận “Âu Lâu” của “anh” lại
“động” vào cái kết nối giữa hai người chứ không phải “động” vào “em” hay ngược
trở lại vào “anh”. Đây là một tư duy sắc sảo về nghệ thuật mà chúng tôi sẽ
trình bày kỹ hơn ở dưới.
Cực hạn thầm mỹ
Chữ trong Bóng chữ vừa là thực thể
vừa làm bóng của nhau, đứng chung với nhau theo một trật tự nhưng chúng có lúc
hội tụ, có lúc tán xạ trong tâm trí người đọc. Cực hạn thẩm mỹ bài thơ này đạt
được ở thao tác biến “âu lâu” tính từ thành “Âu Lâu” danh từ riêng. Chủ thể
“em” trong bài được định hình bằng tính chất “thơ thiếu nhỏ” thì “anh” được
định hình bằng tính chất “âu lâu”. Nếu tác giả viết “Chiều âu lâu” thì bài thơ
này chỉ dừng ở mức một bài thơ tình hay với độ kết cấu chắc chắn và kỹ thuật
điêu luyện. Nhưng Lê Đạt đã nâng tầm cho chủ thể “anh” từ tính chất “âu lâu”
thành danh từ riêng “Âu Lâu” để thể hiện thân phận của “anh” trong khi chờ đợi
“em”. Vì thế có thể khẳng định rằng Lê Đạt đã bắt chữ “Âu Lâu” mang thân phận
người.
Bóng chữ có lúc được nhìn nhận như
tác phẩm hậu hiện đại, có lúc lại được đặt ở ranh giới giữa hiện đại và hậu
hiện đại. Nhưng qua phân tích, chúng tôi nhận thấy, các tính chất được miêu tả
dao động lẫn nhau. “Em” vừa thực, vừa ảo, vừa có mặt, vừa vắng mặt trong tâm
trí “anh”. Sự dao động này biến “anh” từ tính chất thành phẩm chất lớn hơn rất
nhiều về mặt nghĩa. Và cái phẩm chất của bóng ấy lại không tác động trực tiếp
vào “em” theo một cách tích cực hoặc tác động ngược trở lại “anh” theo một cách
tiêu cực mà chỉ tác động vào cái kết nối giữa “anh” và “em”. Chính từ điểm này
kết hợp với sự dao động trong tâm trí “anh”, chúng tôi kết luận Bóng chữ là một
tác phẩm siêu hiện đại. Mặc dù lý thuyết Siêu hiện đại được tuyên ngôn vào năm
2011, sau khi Bóng chữ ra đời 17 năm nhưng sẽ rất vô lý nếu không xếp Bóng chữ
vào hệ thẩm mỹ siêu hiện đại.
Dễ dàng nhận thấy Bóng chữ kế thừa
tư tưởng của người xưa: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành
hơi” về cái vắng người và dựa trên nền tảng ngôn ngữ có bóng tự thân. Bóng
người và bóng chữ hòa quện vào nhau, giằng níu lẫn nhau tạo hình con người có tính chất và thân phận trong không
gian tâm tưởng. Lê Đạt đã để lại cho văn chương Việt kiệt tác Bóng chữ mang
thân phận người.
Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công
Đạt, sinh ngày 10/9/1929 tại Yên Bái, mất ngày 21/4/2008 tại Hà Nội. Ông được
Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho các tập thơ Bóng chữ, Ngó lời và
Hèn đại nhân năm 2007. Ông từng bị quy là phần tử thuộc nhóm Nhân văn Giai phẩm, bị dừng xuất bản liên tục
trong 30 năm. Bài thơ Bóng chữ được in trong tập thơ Bóng chữ xuất bản năm
1994.
TP.HCM 8/2026


