Tuyển thơ “Trước biển lớn” có in lại một bài thơ đặc sắc thời thơ mới: “Vọng hải đài” của Phạm Hầu. Chỉ bằng "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?" đã góp phần nâng vực cả tứ thơ lên. Đây là hai câu thơ rất khác lạ, vừa hướng ra vô hạn, vừa hướng vào nỗi cô đơn rất người.

Nhân Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã phát hành tập thơ “Trước biển lớn”. Với chủ đề: Biển đảo, chủ quyền biển đảo và những gì liên quan đến biển đảo, “Trước biển lớn” đã tập trung giới thiệu những bài thơ chọn, những câu thơ chọn viết về biển của nhiều tác giả qua nhiều thời kỳ khác nhau từ Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Huy Bích, Ngô Thì Nhậm, Trần Minh Tông, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cho đến Phạm Hầu, Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chính Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương...

Những câu thơ: “Biển Đông vạn dặm giăng tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình” (“Biển Đông vạn dặm giăng tay giữ”, Nguyễn Bỉnh Khiêm); “Mặt trời đội biển nhô màu mới/ Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” (“Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận); “Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió/ Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố” (“Thuyền và biển”, Xuân Quỳnh); “Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn” (“Thơ viết ở biển”, Hữu Thỉnh); “Tổ quốc kiên trì nhoài ra biển/ Ôm những quần đảo trong vòng tay thương mến” (“Những người đi tới biển”, Thanh Thảo); “Hạt muốn mang trong mình vị mặn/ Từ bao đời biển đã biết thương ta” (“Trước biển”, Vũ Quần Phương); “Mộ gió đây những giây biển lặng/ Gió là tay ôm ấp bến bờ xa/ Chạm vào gió như chạm vào da thịt/ Chạm vào nhói buốt Hoàng Sa (“Mộ gió”, Trịnh Công Lộc)... là những câu thơ đáng nhớ, ít nhiều để lại ấn tượng.

Đặc biệt trong “Trước biển lớn” có in lại một bài thơ đặc sắc thời thơ mới: “Vọng hải đài” của Phạm Hầu. Chỉ bằng: "Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận/ Chẳng biết xa lòng có những ai?" đã góp phần nâng vực cả tứ thơ lên. Đây là hai câu thơ rất khác lạ, vừa hướng ra vô hạn, vừa hướng vào nỗi cô đơn rất người.
Cử chỉ “đưa tay vẫy” vốn rất cụ thể, rất đời thường như gọi ai, chào ai. Nhưng đối tượng ở đây lại là “ngoài vô tận” - một cái gì không hình, không bóng, không bờ bến. Cái hữu hạn (cánh tay con người) chạm vào cái vô hạn (không gian, thời gian, tồn tại): Một hành vi có vẻ chủ động, nhưng ẩn sâu là một nỗi khát khao giao cảm với cái không thể nắm bắt. Cái “vẫy” ấy vì thế không chắc là gọi người, mà có khi là gọi đời, gọi thời gian, gọi chính mình đã thất lạc.

“Chẳng biết xa lòng có những ai”- câu này mới thật sự thắt lại. “Xa lòng” không chỉ là xa về khoảng cách, mà là xa trong tâm cảm, xa những người từng gần mà nay đã lạc khỏi vùng thân thiết của trái tim. “Chẳng biết” không phải là không biết thông tin, mà là một sự mờ hóa hiện hữu: Người thì có đó, nhưng trong lòng đã thành hư ảnh. Hai câu ghép lại tạo thành một nghịch lý rất đẹp: Tay thì vẫy ra ngoài vô tận (hướng ngoại, tìm kiếm) nhưng câu hỏi lại quay vào “lòng” (hướng nội, tự vấn).

Nếu đặt trong không gian “Vọng hải đài” (đài trông ra biển), thì hình ảnh càng sâu: Con người đứng trước biển - biểu tượng của vô tận; vẫy tay  như muốn nối một tín hiệu giữa mình và cái mênh mông ấy. Nhưng rốt cuộc chỉ nhận lại một câu hỏi về những “người đã xa lòng”. Nó gần với một cảm thức hiện sinh phương Đông: Không kêu than ồn ào, không tuyệt vọng kịch tính, chỉ là một cái “biết mơ hồ” về sự chia lìa.

Nếu đọc chậm, hai câu này như một làn sóng: Nếu câu đầu dâng lên (mở ra vô tận) thì  câu sau rút xuống (đọng lại trong lòng). Và ở giữa hai nhịp ấy là một khoảng lặng - nơi con người nhận ra: Cái vô tận bên ngoài không lấp đầy được những khoảng trống rất cụ thể trong lòng mình để thấy hai câu thơ của Phạm Hầu thực ra đứng ở một giao điểm rất sâu. Con người mang nỗi buồn đi khắp thế gian, nên “xa lòng” không còn là một sự kiện, mà là một trạng thái tồn tại, tựa như gặp mà như không gặp, gần mà vẫn xa. Đó chính là “xa lòng”, như một hữu thể bị ném vào thế giới mà không chọn nơi sinh ra, không chọn thời gian tồn tại và luôn đối diện với một khoảng không vô hạn.

 Hành vi “vẫy” ở đây có thể hiểu như một nỗ lực thiết lập liên hệ với thế giới, một “tín hiệu” của hữu thể muốn được đáp lại. Nhưng vấn đề là: Vô tận thì không đáp lời. Và chính lúc đó: Vô tận bên ngoài và trống rỗng bên trong. Đó là tứ thơ lớn của thân phận con người và bi kịch muôn thuở của con người. Đó cũng là sự phổ quát và độ phủ sóng đến mức phổ quát của thơ.

                                     ĐẶNG HUY GIANG