Nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng vẫn phát huy thế mạnh khai thác trầm tích quê hương, để có được chùm thơ đoạt giải cao trong cuộc vận động sáng tác “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai”.
Nhà thơ
Nguyễn Thanh Mừng tuổi Canh Tý 1960. Không chỉ sớm thành danh, ông đã đảm nhiệm
cương vị Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Định khi còn rất trẻ. Định hình phong cách
bằng lục bát, nhưng nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng vẫn tạo được những ấn tượng riêng
ngoài vùng lục bát.
Ưu điểm vượt
trội của thơ Nguyễn Thanh Mừng là bén rễ vào văn hóa dân gian và đời sống tâm
linh Nam Trung bộ. Trầm tích “Đất vua” từng được ông nhận diện “Anh về thăm lại
hoàng cung/ thành cao đã phế sân rồng đã hoang/ đoái nhìn mấy dặm quan san/ áo
anh bay lẫn ráng vàng uy nghiêm/ Giang hồ dừng bước một đêm/ trúc sen là lính cỏ
bìm là ngai/ kíp ban ngự tửu trong ngoài/ mời sông mời núi mời ai tương phùng”
để thấu hiểu lẽ đời “Đám cưới Huyền Trân” nhiều cơ cầu run rủi “Nghe đồn vua xứ
Chà Bàn/ Dâng miền Ô Lý rước nàng vu quy/ Tôi mang rượu đến biên thùy/ Hắt lên
mây trắng biệt ly cả cười”.
Trên đất
đai giàu bản sắc “Núi thì đứng, gò thì ngồi/ Dòng sông ngửa mặt ra nơi biển nằm/
Sợi tơ trong vắt xa xăm/ Buộc ta với cả ngàn năm lở bồi”, nhà thơ Nguyễn Thanh
Mừng có cách ưu tư khác về giá trị mỗi cánh đồng và vẻ đẹp từng hạt gạo. Chùm
thơ ba bài “Câu thần chú tình yêu”, “Những thế võ trong hạt lúa Tây Sơn” và “Mắt
Chiêm Thành” được nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng gửi đến cuộc vận động sáng tác “Lúa
gạo Việt – Nguồn cội và tương lai” (do Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam tổ
chức) khi thời hạn nhận bài sắp kết thúc.
Chùm thơ của
nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng được ban giám khảo đánh giá cao và được trao giải nhì
chung cuộc. Bài thơ “Câu thần chú tình yêu” mở ra không gian huyền ảo của khói
bếp ấm no: “Cánh đồng có phải đạo tràng/ Mà thân lúa sánh hàng hàng tì kheo/ Nước
non gió biển sương đèo/ Bước chân bi mẫn thành siêu tác quyền/ Nụ cười xã tắc Rồng
Tiên/ Ngát thơm ruộng mật nối liền bờ xôi/ Đôi khi cây lúa thay người/ Chép lời
hưng phế khúc nhôi ngai vàng/ Nén lòng vũ trụ đa đoan/ Trong mùi thơm dẻo rịt
ràng nồi niêu/ Mở câu thần chú tình yêu/ Tỏa muôn bếp lửa khắp heo hút trời”.
Hạt gạo
quen thuộc bao đời của người Việt Nam, qua cách nhìn và cách nghĩ của nhà thơ
Nguyễn Thanh Mừng, bỗng nhuốm màu cổ tích. Nghĩa là, hạt gạo nuôi dưỡng cả thân
thể lẫn linh hồn con người miền Trung. Bài thơ “Những thế võ trong hạt lúa Tây
Sơn” là những liên tưởng rất khác biệt và mới mẻ. Cây lúa trên đồng cùng ông
phô diễn các thể võ lừng lẫy Lôi Long Đao, Song Phượng Kiếm, Thái Sơn Côn, Ngọc
Trản Thần Công… bởi lẽ “Lúa là ngôn ngữ của cánh đồng trước tác sấm truyền/ Lấy
thế võ làm lời đề tựa/ Lúa từng cuộn trào theo nhạc võ”.
Nhờ những
liên tưởng bất ngờ, cánh đồng miền Trung chợt vỡ òa bao nhiêu âm thanh sôi sục
ước mớ và khát vọng: “Luống cày vỡ từ hào kiệt núi Kiếm sông Côn/ Chữ như lúa nảy
mầm đòng đòng trổ bông ngậm sữa”.
Bài thơ “Mắt
Chiêm Thành” bộc lộ đầy đủ nhất phẩm chất thi ca của nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng.
Một giống lúa cổ của Bình Định, đã ngả nghiêng theo vần điệu, đã đắm đuối theo mùa
mang: “Dưới mưa xuân ngát lòng thung/ Ngỡ ngàng gặp lúa Cà Đung rập rờn/ Ngút
ngui ký ức vàng son/ Hạt già dặn núi hạt non tơ nguồn/ Định cư thế kỷ đèo
truông/ Thở từng nghi lễ vui buồn gia tiên/ Chàm Kinh từ độ trao truyền/ Rưng
rưng ruộng tổ thẩm quyền mạ xanh/ Đây huyền ảo mắt Chiêm Thành/ Rũ son gạt
phấn để dành mà thơm/ Khúc cung đình của rạ rơm/ Bao nhiêu vũ nữ xòe ôm hoàng
triều”.
Giống lúa
Cà Đung ngỡ chừng chẳng ai nhớ nữa, mà qua thơ Nguyễn Thanh Mừng, lại tỏa hương
một miền ký ức rưng rưng.
Chùm thơ về
lúa gạo của nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng, chứng tỏ bút lực ông vẫn sung mãn ở tuổi
66. Một nhà thơ nhẫn nại với từng xúc động cội nguồn, thì thơ và lúa đều trổ
bông./.
Nguồn: Tạp chí Ngày Nay


