Kỳ nhân quê lúa Đỗ Trọng Khơi với tùy bút viết về xứ sở, vừa được trao giải nhất văn xuôi của cuộc vận động sáng tác ‘Lúa gạo Việt – Nguồn cội và tương lai’ do Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam tổ chức.
Kỳ nhân quê lúa Đỗ Trọng Khơi có thể xem như một trường
hợp đặc biệt trong giới cầm bút nước ta. Dân gian Thái Bình truyền tụng câu vè
“quê lúa lắm chuyện bất ngờ/ nhà văn viết đứng, nhà thơ viết nằm”, mà nhân vật
“nhà thơ viết nằm” chính là Đỗ Trọng Khơi.
Vì sao lại có giai thoại “nhà thơ viết nằm”. Sinh năm
1960 tại Hưng Hà, Đỗ Trọng Khơi có một tuổi thơ nhiều biến cố bất hạnh. Ông mồ
côi năm 6 tuổi, khi người cha Đỗ Xuân Khê hy sinh trên chiến trường miền Nam. Thế
nhưng, định mệnh nghiệt ngã vẫn không buông tha đứa con trai duy nhất của một
liệt sĩ. Vừa cắp sách đến trường, Đỗ Trọng Khơi đã mắc bệnh viêm đa khớp dạng
thấp. Diễn biến dính khớp teo cơ ngày càng nặng, khiến Đỗ Trọng Khơi phải nghỉ
học từ năm lớp 4. Chấp nhận thân phận bại liệt, Đỗ Trọng Khơi nằm trên giường tự
học để cầm bút, và ông cũng đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Tập thơ “Con chim thiêng vẫn bay” xuất bản năm 1992,
đánh dấu sự xuất hiện của kỳ nhân quê lúa Đỗ Trọng Khơi trên văn đàn. Từ đó đến
nay, hàng chục tác phẩm khác, bao gồm thơ, truyện ngắn, bình văn của Đỗ Trọng
Khơi liên tục ra đời. Ông đứng vào đội ngũ hội viên Hội Nhà văn VN mà chưa bao
giờ hy vọng được dịp đặt chân đến ngôi nhà chung của tổ chức văn chương ấy.
Ý chí sống và khát khao viết của Đỗ Trọng Khơi đã làm
rung động trái tim cô thủ thư Thu Oanh ở Bạc Liêu. Chị quyết định về Thái Bình
làm vợ nhà thơ tật nguyền vào năm 2009, và họ có hai đứa con trai.
Cả đời gắn bó quê lúa với hoàn cảnh cá nhân không mấy
thuận lợi, nhà thơ Đỗ Trọng Khơi cảm nhận “sương dù khi buốt lạnh/ gió có lúc ầm
ào/ hoa vẫn loài hoa cũ/ miên man lan giậu rào”. Tuy nhiên, ông luôn quan sát
và luôn suy tư. Nhân có cuộc vận động sáng tác “Lúa gạo Việt – Nguồn cội và
tương lai” do Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam” tổ chức, ông đã đoạt giải
nhất thể loại văn xuôi với tùy bút “Cây lúa dạt dào tình người quê lúa”.
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi viết: “Việt Nam được gọi là quốc
gia của văn minh lúa nước, và quê tôi Thái Bình (nay sáp nhập về Hưng Yên) lại
là một miền quê thuần nông tiêu biểu. Nhìn từ xa, những cánh đồng trải dài như
tấm thảm xanh bất tận. Mùa mạ non xanh biếc, mùa lúa trổ đòng đòng, rồi đến mùa
vàng óng ả. Con người nơi đây lớn lên cùng cây lúa, quen với mùi bùn đất, quen
với nhịp mùa vụ, quen cả với những nhọc nhằn mà cũng đầy ắp niềm vui. Người quê
lúa không chỉ làm ruộng bằng sức, mà còn bằng kinh nghiệm và trực giác”.
Nếu trong thơ, kỳ nhân quê lúa nắc nỏm “Ta quê ở xứ
chiêm bao/ Từ lâu đã chẳng thể nào xa quê/ Trúc vàng giữ giọng Trương Chi/ Chén
vàng chưa vỡ câu thề Mị Nương” thì ông lại rạch ròi phân tích trong văn xuôi:
“Chỉ người từng chịu cảnh tha hương mới thấy từng bờ ruộng, từng con mương, từng
mùa lúa đã in sâu vào mình đến thế nào. Một bát cơm nơi đất khách, dù đầy đủ, vẫn
không thể giống bát cơm quê nhà. Bởi trong đó thiếu đi mùi rơm mới, thiếu vị
phù sa, thiếu cả hình bóng của những buổi trưa chang chang nắng mẹ cấy ngoài đồng,
hay những chiều gặt rộn ràng tiếng nói cười. Chính trong những ngày trở về ấy,
người ta mới nhìn lại cánh đồng quê với một ánh mắt khác. Không còn là nơi lam
lũ, mà là chỗ dựa. Không còn là thứ có thể rời bỏ, mà là nơi để quay về”.
Có một cuộc đời như huyền thoại, nhà thơ Đỗ Trọng Khơi
khiêm cung “tôi thường u u minh minh/ cầm gương nhật nguyệt soi tình rong rêu”
nhưng ông rất nghiêm túc quan niệm về văn chương: “Mang đời sống hiện thực trên
đôi cánh khát vọng của tình yêu về tự do và cái đẹp. Nhờ vậy văn chương mang
trong nó động lực có tính hình mẫu của chân lý, chân giá trị cuộc sống giúp cho
sự phát triển của xã hội - con người ngày càng trở nên hoàn thiện hơn. Khám phá
và tạo dựng các hình mẫu bản thể và quy luật vận động nhân tính, do đó qua các
hình mẫu nghệ thuật đời sống hiện thực xã hội được hiện hữu đúng với giá trị sống
của con người. Những giá trị con người được trường sinh ngay trong thời gian hiện
thực của nó”.
Tùy bút “Cây lúa dạt dào tình người quê lúa” của kỳ
nhân quê lúa Đỗ Trọng Khơi đặt ra nhiều suy ngẫm cho giá trị nông nghiệp Việt
Nam. Từ hình ảnh cây lúa, ông băn khoăn: “Câu chuyện “ly nông không ly hương”
đâu chỉ là chuyện mưu sinh. Đó còn là câu chuyện của gốc rễ, của sự gắn bó, của
cách con người đi qua những đổi thay mà vẫn giữ được cho mình một nơi để nhớ, để
quay về. Làm sao để bước tới phía trước mà không đánh rơi những gì đã làm nên
mình, có lẽ, đó mới là điều khiến người ta day dứt và kiếm tìm.
Cây lúa vẫn đứng đó, lặng lẽ qua bao mùa nắng mưa, không nói gì mà như đã nói hết. Người quê lúa cũng vậy – bền bỉ, nhẫn nại, lặng thầm như chính cây lúa. Và chừng nào hạt gạo còn hiện diện trong mỗi bữa cơm, chừng ấy câu chuyện về cây lúa, về người quê lúa vẫn còn được kể mãi không dứt, như cõi ngàn xưa đi về thương mến đâu đây: Nắng lên cho lúa chín vàng/ Cho anh đi gặt, cho nàng đưa cơm”.
NNMT


