Tôi ngỡ ngàng và không khỏi ngạc nhiên khi cầm trên tay thi phẩm mới nhất của nhà thơ Trần Trọng Giá mang tên “Nguồn cội”. Và tôi coi đây là một sự “chuyển động thơ” sau những tháng ngày trăn trở và hết mình với thơ của ông. Hay nói một cách khác: Càng viết, Trần Trọng Giá như đã ngộ ra một lẽ gì đấy trong thơ mà không dễ gì giải thích nổi.
Thơ trong “Nguồn cội” rộng về “trường” đề tài, đa dạng
về bút pháp, biến ảo về cách cảm, cách nghĩ và cả cách diễn đạt nữa. Thơ ông
coi trọng ý tứ. Ông như thoát khỏi cái vòng kim cô của kể, tả, ít tiết chế cảm
xúc mà nhiều người cầm bút thường mắc phải. Đã thế, ông còn để lại những phát
hiện trong thơ thật đáng trân trọng.
Cụ thể trong “Nguồn cội” có 3 bài viết gần như xoay
quanh một đề tài: “Cố hương tôi”, “Đất Phú Nhiêu, quê tôi 1” và “Đất Phú Nhiêu,
quê tôi 2”, nhưng lại được thể hiện theo các cách thức khác nhau.
Đây là 8 câu thơ ảo và không thể nói là không có phần
siêu thực: “Có một tiếng gà không bao giờ dứt/ Vẫn gáy lên từ trong tiềm thức/
Dội vào tôi như vết nứt trong đêm/ Của một giấc mơ mọc rễ không yên” và: “Dường
như nơi đây: Khói lam không bay lên trời/ Mà vương vấn vào những nếp áo mẹ/ Nơi
mà mỗi đường kim như dạt như trôi/ Khâu lại tuổi thơ tôi từng mòn quai dép”
hay: “Có một ngọn gió/ Không hiểu từ phương trời nào?/ Thổi vào tôi lời thì thầm
không dứt/ Bằng tiếng rì rào của mái rạ/ Bằng tiếng của lặng im những chiếc lá
rơi không chạm đất/ Neo đậu vào khoảnh khắc tôi xưa”.
Trong đó, chi tiết:
“Tiếng gà” “vẫn gáy lên trong tiềm thức” mà trở thành “vết nứt trong
đêm/ của một giấc mơ mọc rễ không yên”, “Khói lam không bay lên trời/ Mà vương
vấn vào những nếp áo mẹ” để “Nơi những đường kim như dạt như trôi/ Khâu lại tuổi
thơ tôi từng mòn quai dép” là những liên tưởng lạ, nếu không muốn nói là kỳ ảo
giữa cuộc đời thực cùng những ấn tượng khó mà quên được của ký ức tuổi thơ.
Nếu “Đất Phú Nhiêu, quê tôi 1” được viết rất giản dị
và chân thực, gần gũi và ấm áp, vừa truyền thống, vừa thân thuộc: “Ơn tiếng gà
đêm cũ/ Đánh thức cả chiêm bao/ Ơn khói lam chiều nào/ Giữ hồn làng muôn thuở”,
thì “Đất Phú Nhiêu, quê tôi 2” bất chợt ảo trở lại, cụ thể hơn tựa như trong
cơn mơ trở lại từ thời thơ ấu: “Có những đêm trăng sà xuống ruộng/ Ánh sáng dịu
dàng như bàn tay bà/ Vuốt lên má đứa trẻ là tôi ngủ mê/ Trong giấc mơ không nỗi
buồn len lỏi” và ý thức cội nguồn ấy luôn lớn lên, ở lại trong lòng đứa trẻ lớn
đến mức: “Tôi lớn lên từ mảnh đất ấy/ Mỗi bước chân đều in bóng tổ tiên/ Mỗi ngọn
gió đều mang hơi thở mẹ/ Mỗi ngọn núi đều mang dáng hình cha”.
Cả 3 bài về cố hương của Trần Trọng Giá đều có ý sâu sắc,
lại có tình sâu xa. Với ông đó là: “Ơi Phú Nhiêu thánh thiện/ Chẳng đâu như quê
nhà/ Tôi mang nợ sâu xa/ Từ những điều giản dị” và Phú Nhiêu luôn “Như máu tràn
huyết quản/ Chảy trong tôi sớm chiều”.
Thơ của ông có
lúc bừng ngộ một cách thấu đáo, triệt để. Ông chợt ngộ ra trong “Thuận - nghịch”,
coi thuận nghịch như là quy luật của cõi trần thế này. Nhưng giữa hỗn mang và
vô thường ấy, ông vẫn tìm được cho mình một nơi ẩn trú an toàn và “Vẫn an nhiên
tồn tại” bởi trong tâm thức luôn có “Một dòng xanh êm trôi”. Trong “Ánh sáng và
sự thật”, ông xác tín vào sự chói lòa của đức tin, sức mạnh của đức tin nên mọi
thứ không còn quan trọng nữa: “Không còn đâu: Đến - đi/ Không còn gì: Được - mất”.
Có lúc, ông ngộ ra bi kịch của cõi người bằng cách diễn giải thế thái nhân tình
qua “Đèn cù”: “Thế giới này là những cuộc chơi/ Thật như giả, giả mà như thật/
Rặt trò trốn tìm, rặt trò đuổi bắt/ Chạy đến hụt hơi, vẫn quanh cái đèn cù”.
Trong “Nguồn cội”, ít nhất có 2 tứ thơ lạ. Đầu tiên là
“Trước sen”:
Trước sen lòng tĩnh lặng
Bóng người hòa bóng hoa
Buồn, vui thành mây trắng
Ta mà như không ta.
Bài thơ tuy ngắn
gọn, nhưng lại mở ra một không gian thiền quán rất sâu. Hoa sen trong văn hóa Á
Đông vốn là biểu tượng của thanh khiết, giác ngộ, vô nhiễm giữa bùn nhơ. Câu
thơ “Trước sen lòng yên tĩnh” mở ra cảnh người ngồi trước hoa sen, tâm lắng xuống,
không còn gợn sóng. Cái “tĩnh lặng” ở đây không chỉ là trạng thái tâm lý mà còn
là gợi ý cho một khung cảnh tôn giáo và Phật tính được đánh thức. Về mặt biểu
tượng câu: "Bóng người hòa bóng hoa", có thể hiểu: Con người và hoa
sen nhập làm một - con người nhập vào bản thể của tự nhiên, hòa vào tinh khiết.
Đây là bước chuyển từ “quan sát” sang “hợp nhất”, từ “ngoài” đến “trong”.
Đến câu: "Buồn, vui thành mây trắng" thì những
trạng thái tâm lý thường nhật (buồn - vui) giờ đây tan biến, không còn trọng lượng.
Trong đó, “Mây trắng” là hình ảnh nhẹ, bay, vô thường (biểu tượng thiền). Nó
không cất giấu buồn vui, mà thăng hoa, để mọi cảm xúc trở thành cái gì phi cá
nhân, phi vướng mắc. Câu kết: "Ta mà như không ta" là đỉnh điểm của
bài. Nó chạm vào ý niệm vô ngã trong Phật học: Cái “ta” hiện diện nhưng không
còn chấp thủ, không còn là cái ngã riêng biệt. Đây là kết tinh của sự tĩnh lặng
ban đầu: Khi buồn vui đã hóa mây trắng, người đối diện sen bỗng cảm thấy chính
mình tan loãng trong thế giới, hiện hữu mà như không. Bài thơ tuy chỉ bốn câu
nhưng dựng được một hành trình tâm linh: Từ tĩnh lặng (cảnh giới) đến hòa nhập
(con người và hoa sen) rồi từ chuyển hóa cảm xúc (buồn vui thành mây) đến vô
ngã (ta mà không ta). Bài thơ có cấu trúc như một khúc thiền tụng, gọn mà vang,
giống phong cách haikư nhưng đậm tính triết học phương Đông.
Sau đó là “Hai
nửa thế giới”:
Một nửa sáng, một nửa tối
Một nửa trắng, một nửa đen
Một nửa đỏ, một nửa xanh
Một nửa chìm, một nửa nổi
Tôi cùng thế giới kết nối
Một mình một smarphone
Chẳng ai mong có chiến tranh
Vậy mà chiến tranh vẫn đến
Cả nhân loại mong hòa bình
Mà hòa bình không vĩnh viễn
Nỗi lo xoay ngang
xoay dọc
Tôi cầm thế giới trong tay.
Bài thơ “Hai nửa thế giới” gợi mở nhiều tầng ý nghĩa từ
cách nhìn giản dị mà khái quát. Ngay từ nhan đề và bốn câu mở đầu, nhà thơ dựng
lên thế giới bằng những cặp đối cực: Sáng/tối, trắng/đen, đỏ/ xanh, chìm/nổi.
Đây không chỉ là miêu tả cảm quan, mà còn là cách nhận thức: Thế giới luôn tồn
tại trong tương phản, trong mâu thuẫn, trong sự phân chia thành hai cực đối lập.
Mỗi “nửa” vừa riêng rẽ vừa gắn kết, tạo nên chỉnh thể của tồn tại. Cách viết
này làm ta liên tưởng đến âm - dương, thiện - ác, chiến tranh - hòa bình. “Tôi
cùng thế giới kết nối/ Một mình một smartphone” - câu thơ vừa hiện đại, vừa
chua chát.
Nhà thơ ý thức được mình đang sống trong một “thế giới
phẳng”, nhờ thiết bị nhỏ bé mà chạm tới cả nhân loại. Nhưng nghịch lý ở chỗ:
Càng kết nối rộng, càng cô đơn sâu. “Một mình” đặt cạnh “smartphone” hé lộ tâm
trạng trống trải của con người thời toàn cầu hóa với nhiều mối liên kết ảo
nhưng thiếu sự gắn bó thực sự. “Chẳng ai mong có chiến tranh/ Vậy mà chiến
tranh vẫn đến” - sự thật đau đớn này mang tính phổ quát. Nhà thơ không nói đến
một cuộc chiến cụ thể, mà như khái quát quy luật của lịch sử loài người. Hòa
bình là ước vọng muôn đời, nhưng “Hòa bình không vĩnh viễn”. Câu thơ vừa buồn,
vừa tỉnh táo. Nó cho thấy sự mong manh của những gì nhân loại tưởng đã giữ được.
Hình ảnh “cầm thế giới trong tay” trong câu “Nỗi lo
xoay ngang xoay dọc” có hai nghĩa. Nghĩa thực: Một chiếc smartphone nhỏ gọn có
thể chứa toàn bộ tin tức, bản đồ, thông tin toàn cầu. Nghĩa biểu tượng: Con người
tưởng như làm chủ thế giới, nhưng thực ra lại bị nỗi lo lắng chi phối, bị cuốn
vào vòng xoay bất định. Rõ ràng, thế giới trong tay, nhưng hòa bình ngoài tầm với.
Đó là nghịch lý của thân phận hiện đại. “Hai nửa thế giới” là một bài thơ ngắn
nhưng giàu tính triết luận. Nó đặt con người giữa thế giới phân cực, giữa khao
khát hòa bình và hiện thực chiến tranh, giữa kết nối công nghệ và nỗi cô đơn nội
tâm.
Lâu nay, Trần Trọng Giá vốn có sở trường về làm thơ lục
bát. Lần này, tài thơ lục bát của ông lại được thăng hoa. Ít nhất, ông có những
câu lục bát ấn tượng. Đây là 4 câu trong “À ơi...nước mắt chảy xuôi”: “Đi qua mấy
cuộc chiến chinh/ Thương em gánh nỗi một mình lo toan/ Bao vất vả, bao gian
nan/ Mồ hôi, nước mắt chan chan phận người”. Đây là 2 câu trong “Ta về”: “Tình
duyên như rủi như may/ Như mưa rớt xuống lay phay phận người”. Đây là 2 câu
trong “Trước sông Vân”: “Xa nhau. Người vẫn nhớ người/ Đội vầng trăng, đội mặt
trời chờ nhau”. Những câu chữ: “Chan chan phận người”, “Lay phay phận người”,
“Đội vầng trăng, đội mặt trời chờ nhau” rất động và rất mới, lại được đặt ở vị
trí thật đắc địa trong văn cảnh cụ thể, khiến câu thơ bừng sáng hẳn lên về ngữ
nghĩa.
Còn những phát hiện trong thơ Trần Trọng Giá trong “Nguồn
cội” cũng thật khác người. Không khác người sao ông lý giải hiện tượng Thánh
Dóng theo cách này:
Một cậu bé quê nghèo
Một mẹ già tần tảo
Một bát cơm đầy
Một lời ước giữa thời loạn lạc
Và một dân tộc từ đó đứng lên
Để Tổ quốc mãi còn hai tiếng: Việt Nam.
Không khác người sao ông khắc họa cuộc chiến Quảng Trị
đầy đủ nhất với sự khốc liệt và hậu quả của nó theo cách này:
Trong cát còn xương trắng
Trong gió còn lời thề.
Riêng hai câu thơ này, xứng đáng liệt hạng để đời
trong những bài thơ hay viết về Quảng Trị - một mùa hè đỏ lửa năm 1972.
ĐẶNG HUY GIANG


