Trước trang giấy nhà thơ có cái hạnh phúc được truy lĩnh cái phần đời mà mình chưa sống hết, được hưởng thụ cái phần sâu sắc của tình người mà mình chưa biết để hưởng thụ và cả cái hạnh phúc mình được tự hoàn thiện mình.


PHẨM GIÁ CỦA THƠ

(Tham luận tọa đàm “Phẩm giá của thơ ca”, do Hội Nhà văn VN tổ chức sáng 3/3, nhân Ngày Thơ Việt Nam tại Quảng Ninh)

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Ban tổ chức cuộc hội thảo này đã có những gợi ý hào hứng và thiết thực, có sức thu hút suy nghĩ của người tham dự. Tuy nhiên, tôi biết sức mình nên không dám ôm đồm tham bác, xin các anh các chị cho phép tôi cảm nhận đôi điều cụ thể từ công việc làm thơ của chính đời mình. Tôi có đọc ở nhiều nhà thơ, trong lúc quá giận nghề hay quá yêu nghề, những câu thơ như oán như than mà lại như một sự kiêu hãnh ngầm cho nghiệp bút mực này:

Ai bảo mắc vào duyên bút mực

Suốt đời mang lấy số long đong

Người ta đi kiếm giàu sang cả

Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông

Mấy câu thơ trên tôi trích của Nguyễn Bính, trong bài “Xuân tha hương” viết cách đây hơn tám mươi năm. Ngày tết, nỗi buồn nhất của người tha hương hồi ấy là không về quê được. Bài thơ như lời than dài về thân phận và truy tìm nguyên cớ về kiếp long đong của đời mình, trong đó ông quy tội đầu là tội “mắc vào duyên bút mực”, tội làm thơ. Thơ, chả thời nào đủ nuôi người làm thơ. Tài tình đến như Nguyễn Du mà còn “mười con sắc mặt xanh như lá” (thập khẩu hài nhi thái sắc đồng). Ấy thế mà chả thấy nhà thơ thực tài nào bỏ thơ làm nghề khác. Khổ đến như Tú Xương “Vay nợ lắm khi trào nước mắt/ Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” mà vẫn cứ ngất ngưởng thơ phú quanh năm. Thậm chí lấy luôn cái nghèo mà làm thơ, coi đấy là cái chỗ mình hơn thiên hạ “Người ta hơn tớ cái phong lưu/ Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo”.

Vậy thơ có đức tính gì mà người đời ham dan díu với nó đến vậy?

Bài trả lời này, tôi xin  được nói một ý, chỉ quanh một ý thôi, theo chiêm nghiệm hạn hẹp của riêng tôi: Sức hấp dẫn của thơ là ở năng lực khám phá, phát hiện mà trước hết là khám phá, phát hiện chính bản thân mình. Làm thơ (và cả đọc thơ nữa) là sống trở lại những điều mình đã sống, nghĩ trở lại những điều mình đã thấy, cảm nhận trở lại những vui buồn mình đã trải. Trước trang giấy nhà thơ có cái hạnh phúc được truy lĩnh cái phần đời mà mình chưa sống hết, được hưởng thụ cái phần sâu sắc của tình người mà mình chưa  biết để hưởng thụ và cả cái hạnh phúc mình được tự hoàn thiện mình.

Chính thao tác “sống trở lại” này khi lọt được vào tác phẩm sẽ cho người đọc tiếp nhận được một mảng cảm nghĩ rất đậm phẩm chất trữ tình, nơi con người cảm thương thân phận của nhau. Thương người rồi lại thương mình. Biết thương mình lại càng cảm thông cảm những nỗi người trong thiên hạ. Nguyễn Du khi đọc các câu thơ của Tiểu Thanh còn sót lại, trong cuốn bản thảo bị người vợ cả đốt, sau khi Tiểu Thanh chết, chết trong cô quạnh, năm 18 tuổi. Nguyễn Du viết bài thơ này như bài điếu, phúng Tiểu Thanh. Một người điếu một người, độc điếu, Nhưng đọc xong thì thấy Nguyễn điếu phúng cả mình nữa đấy: cặp câu nào cũng điệp hai ý ấy. Rõ và thấm thía nhất là hai câu kết, nó thường được tách ra như tiếng than tổng kết cho một đời tài mệnh Nguyễn Du. Nguyễn Du canh cánh một đời tìm lời đáp cho câu hỏi Mình là ai? Mình từ đâu đến? Mình về đâu? và tổng quát trong xã hội ấy, ông tự ý thức về mình:

Bắt phong trần phải phong trần

 Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Trong các nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới, Chế Lan Viên là người trăn trở nhất với câu hỏi Ta là ai. Suốt đời ông tìm cách trả lời câu hỏi ấy. Trước cách mạng tháng Tám, làm thơ ở tuổi thiếu niên, ông tìm vào kinh Thánh, kinh Phật, không thấy mình thì ông làm người Việt khóc ma Hời. Năm 17 tuổi in tập thơ đầu, lấy họ Chế để trước hai chữ Lan Viên và “phát ngôn huênh hoang về công việc làm thơ của mình: làm thơ là một sự phi thường”. Những chữ in nghiêng này tôi trích nguyên văn từ bài “Tựa” ông viết ngày 17/3/1937 cho một tập tuyển thơ ông. Hình như ông cũng không thấy rõ mình. Ông ngờ ngợ hay mình thuộc loài lưỡng thể, lưỡng cư, lưỡng lự… giữa bao nhiêu giằng xé, lôi kéo của thời ấy. Nhưng sau cách mạng thì ông nhận rõ mình, bên Tố Hữu “có tiếng lớn của sông Hồng bát ngát”, ông thấm thía nhận ra mình và ta thấm thía với mạch trữ tình xác định cá thể nơi ông:

Có tiếng nhỏ của sông Thương nước mắt

Sông nhớ thương ơi nước chảy đôi dòng

Lòng ta là cánh đồng lẩn khuất

Đau bên đoài nên thổi gió bên đông

Có một chặng dài nền thơ chúng ta hơi ngại đụng vào hiện thực tâm trạng để vươn vào hiện thực đời sống. Cái ngại ấy không nên có, nó dễ làm mất tính chân thực của xúc cảm và do vậy làm mất sức thuyết phục của thơ.

 Nói đến phát hiện tâm trạng không thể không nói đến Kiều. Nguyễn Du viết Kiều theo một tiểu thuyết có từ trước, cốt truyện nhiều tình tiết, Nguyễn Du chỉ cần tước đi chứ không phải tạo thêm, nhưng cốt truyện ấy mới như một biên bản sự kiện. Phần sáng tạo nổi trội của Nguyễn Du lại ở chỗ ông khám phá được nỗi lòng của nhân vật trong mỗi tình huống và ông làm rõ lên nỗi lòng ấy trong câu thơ của mình bằng ngôn ngữ, bằng hình ảnh, bằng nhịp điệu… rất tinh tế và rất sâu sắc làm kinh hãi bạn đọc của nhiều thời. Các bạn có thể tìm gặp những thí dụ rải rác trong 3254 câu thơ Kiều và tập trung nhất là trong chương Kim Kiều tái hợp.

Tôi chỉ xin nêu ở đây vài chi tiết trong sự phát hiện tâm trạng của Kiều, Vân và Kim Trọng:

Khám phá tâm sự Kiều: Khi cả gia đình lớn (Này chồng này mẹ này cha/ Này là em ruột này là em dâu) được gặp Kiều ở am tu của vãi Giác Duyên, tất cả đã tính đón Kiều về luôn. Trong văn xuôi Thanh Tâm tài nhân viết, qua bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh: (Vương bà) liền bảo Thúy Vân đưa quần áo mang theo cho Thuý Kiều thay. Thúy Kiều vội từ chối, nói: Thưa cha mẹ! con trải nhiều cảnh khổ, nay được gặp cha mẹ đã là may mắn muôn phần. Nhưng thân này bây giờ đã ngoài vòng thế tục, chỉ nên hầu sư huynh ở đây tu hành là đủ.

Ý nghĩ ấy vang vào tâm hồn Nguyễn Du, bật trở lại thành những câu thơ Kiều có sức công phá vào trái tim người:

Mùi thiền đã bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng

Sự đời đã tắt lửa lòng

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi

Dở dang nào có hay gì

Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi 

Ngắn gọn, đau đớn và quyết liệt. Cả chương đoàn viên này, Kiều đã nhượng bộ nhiều mong muốn của người thân, nhưng cái đích đau buồn mà Kiều đã nghiền ngẫm bao phen để lẩn tránh, kể cả hai lần tìm đến cái chết, là không tránh được. Bốn nhịp lập luận trong câu thơ tám chữ, tận cùng bằng hai âm “th” như tiếng thở hắt, gằn và mạnh. Chủ động chọn… buông xuôi.

- Khám phá tâm sự Vân: nhân vật này ít nói nhất trong truyện Kiều. Cô chỉ nghe “phân công” và im lặng thực hiện. Từ việc thế thân cho chị lấy chàng Kim. Rồi 15 năm nuôi chồng đèn sách chứng kiến bao nhiêu cơn ông chồng khóc mếu thương nhớ người tình xưa. Nỗi lòng Vân chắc cũng nhiều thương và xót. Thương chị, thương chồng và xót cái thân mình lắm chứ. Nhưng Nguyễn Du như để quên nhân vật này. Đến đoạn tái hồi, khi cả nhà, trong đó có cả Vân, khuyên nhủ Kiều thành thân với Kim  Trọng. Và bữa tiệc đoàn viên sẽ chuyển thành tiệc cưới. Đến nước này thì Vân phải lên tiếng. Nguyễn Du để tâm tạo diễn đàn và chọn tình thế cho Vân phát ngôn: Tàng tàng chén cúc giở say/ Đứng lên Vân mới giãi bày một hai. Chuyện này phải mượn hơi rượu mới nói hết được. Nhưng tư thế người nói lại nghiêm chỉnh đĩnh đạc, đầy cảm thương trân trọng mối tình lỡ dở đau đớn của Kim Kiều: Những là nay ước mai ao/ Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình. 

Mười lăm năm ấy là Vân nói cho cảnh ngộ của Kim, của Kiều, nhưng sao người đọc lại chạnh lòng nghĩ đến mười lăm năm của chính Thúy Vân khi sống cùng Kim Trọng. Sống với người này nhưng Kim Trọng luôn thương nhớ người kia. Bao phen Vân phải nén mình để an ủi khuyên giải ông chồng khóc mếu. Mười lăm năm ấy chứ ngắn ngủi gì đâu. Cho đến hôm nay, cả nhà lo cho Kiều cho Kim có ai nhắc đến Vân đâu. Vân đứng lên bàn giao chồng mình cho chị không thể nào nguyên đai nguyên kiện, nhưng vẫn tươi xanh. Cuối lời, Vân nài nỉ khuyên chồng và chị gái mình: Quả mai - Thôi anh chị lo luôn đi cho kịp. Điều Vân muốn nói về thân phận mình thương xót lắm - Các bạn tự trả lời lấy. Cả gia đình lớn ấy chưa nghe ra đâu. Nhưng Kiều thì nghe thấu. Và Kiều đã nói ngay vào điều cần nói, nghĩa là vào điều Vân muốn biết nhất: 

Dứt lời nàng vội gạt đi

Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ

- Khám phá tâm sự Kim Trọng. Chi tiết cuối cùng này tôi muốn nói nhất, nó là “cú hạ màn” rất kịch tính, rất bất ngờ. Điều không thể đã thành có thể mà lại "rất đúng quy trình”, như bây giờ người ta quen nói. Và cũng từ đấy chúng ta nhận ra trong ba chàng gắn bó với Kiều và được Kiều yêu lại là Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải thì ai là người “biết yêu” nhất? Kiều có nhận ra không? Nguyễn Du có nhận ra không? Chứng cớ? Đến đây thì thơ phát hiện tâm trạng của chúng ta, những người bây giờ và ở đây.

                                                   21-2-2026