Nhà văn Tô Hoàng ở tuổi 85 ra mắt tập sách “Lính già mau nhớ lâu quên” dày 300 trang, ghi lại những hồi ức quá khứ và những băn khoăn hiện tại, với một thái độ thật khoan dung. Khoảng cách từ “lính trẻ” Tô Hoàng đến “lính già” Tô Hoàng có gì thú vị?
Nhà văn Tô Hoàng quê quán Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng
Yên. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội khóa 1961-1964, ông gia nhập
quân đội và trở thành sĩ quan pháo binh, từng tham gia chiến đấu ở chiến trường
Khe Sanh và Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ. Đất nước thống nhất, Tô
Hoàng được xuất ngoại, theo học ngành đạo diễn phim tài liệu tại Trường Đại học
Điện ảnh Liên Xô. Ngoài thời gian ưu tiên làm phim, Tô Hoàng còn tung hoành ở
lĩnh vực dịch thuật, tiểu thuyết và báo chí. Nhắc đến nhà văn Tô Hoàng, công
chúng thường đề cập tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời”, tập bút ký “Quanh năm là
tháng bảy” và tập phê bình “Một thế giới khác được nhìn qua ống kính”.
Cảm hứng nào để có tập sách “Lính già mau nhớ lâu quên”? Nhà văn Tô Hoàng thú nhận chuỗi ngày bước qua tuổi bát thập: “Thích lần mò tìm về quá khứ với những tập nhật ký vàng ố bị bỏ quên, những tấm ảnh trong cuốn album rách sườn. Để phô mình năm 19, 20 xinh tươi, mịn màng, cái răng khểnh khoe duyên chưa rụng mất... Bạn ơi, xin đừng trách những ông lão, bà lão chúng tôi bởi những trò “tự sướng” như thế. Vì không bày ra những thứ tầm phào, vô vị ấy, không tự lừa mình như vậy, chúng tôi có thể ngủ thẳng đến 8, 9 giờ sáng mới thức dậy. Ăn trưa xong, chúng tôi lại có thể thiếp ngủ đến 3, 4 giờ chiều. Làm gì để “tiêu” hết thời gian của một ngày đây?”.
Chính nhu cầu lặn ngụp miền xa
xăm, lính già Tô Hoàng đã “mau nhớ” thời lính trẻ của mình: “Chúng tôi ngồi
trên mấy gióng gỗ gác ngang một chạc ba chắc khỏe. Đang đi dưới vòm xanh rậm rịt
của rừng đại ngàn, phút chốc được lên cao, được phóng tầm mắt nhìn xa, thấy rộng,
quả là một điều thú vị bất ngờ. Buổi sáng đã đủ thời gian để ánh nắng đánh tan
những đám mù tự dưới khe sâu, hút khô cả những hạt bụi nước nhỏ li ti lẫn trong
không khí, rừng núi sáng bừng, long lanh như vừa được rửa sạch sau một trận mưa
nhiều nước. Nếu không có tiếng máy bay ầm ì, tiếng đại bác địch bắn cầm canh,
đài quan sát chúng tôi đang ngồi chẳng khác gì một con thuyền bồng bềnh trôi giữa
những lớp sóng đồi, sóng núi. Núi chạy lên hướng Bắc. Núi tỏa về hướng Nam. Núi
cao dần theo hướng Tây, bắt mạch với dãy Trường Sơn hùng vĩ. Núi thoải xuống hướng
Đông, chắc hẳn để rồi được ngâm bàn chân đá nứt nẻ giữa mơn man sóng xanh của
biển cả. Ngay phía dưới điểm cao đặt đài quan sát, triền đồi phơi bộ mặt khốc
liệt của những trận đánh mới xảy ra vào cuối mùa mưa năm ngoái: những cây cổ thụ
gãy cành, cụt ngọn, những vạt cỏ gianh cháy nham nhở, những hẻm đá lở lói hố
bom, hố đạn”.
Với tập sách “Lính già mau nhớ lâu quên” do Nhà xuất bản
Hội Nhà văn vừa ấn hành, nhà văn Tô Hoàng chứng minh mình là người lính già vẫn
vấn vương cây bút. Lão mà chưa an, ông thổ lộ: “Về già, sợ nhất là phải nghe,
phải nhìn thấy những chuyện đau lòng. Ấy vậy mà ngày nào trên trang báo mạng,
trên tivi cũng đưa tin những vụ con cái nhà nghèo, mới 5, 6 tuổi đã mắc ung thư
máu; sớm mai vợ chồng chở nhau đi làm cả hai lọt thỏm vào gầm xe công-tơ-nơ. Hoặc
thanh niên đi kiếm tiền ở Nhật, ở Hàn mới gom tiền gửi về giúp bố mẹ cất được một
tầng lầu, nay đã chết vì nổ bình ga, chết vì ngã từ giàn giáo cao xuống... Nghe,
thấy những chuyện như vậy, nước mắt nước mũi tự nhiên cứ tứa ra. Không muốn con
cháu nhìn thấy, vội lấy khăn lau lén y như đang làm điều gian trá”.
Sợ chuyện đau lòng, vậy thì nhắc chuyện hả dạ. Trong cuốn sách “Lính già mau nhớ lâu quên”, nhà văn Tô Hoàng kể lại những hồi ức đầy màu sắc vui nhộn thuở lính trẻ. Có sự vui nhộn mang chút bâng khuâng: “Một đồng đội thông minh láu lỉnh của tôi vào phút chia tay như thế đã bảo người bạn gái nhắm mắt lại và xòe bàn tay ra. Cậu ta rút bút viết chữ gì đó và buộc cô gái hứa sống hứa chết khi cậu ta rời xa trạm mới được xòe tay ra đọc. Thằng quỷ, mày gieo rắc thương nhớ, khổ đau cho cô gái tội nghiệp ấy à? Cậu lính ngửa cổ cười hơ hơ thanh minh: Cậu ấy đã viết tên tên mình, tên cô ta trong lòng bàn tay nóng ấm kia, giữa hai cái tên cậu ta đặt một dấu cộng, sau hai cái tên đặt một dấu bằng, phép cộng ấy sẽ đưa đến con số tổng là hai chữ “muốn năm”. Cũng dễ đoán ra cô gái sẽ cười, sẽ khóc, sẽ khóc rồi sẽ cười, nhưng trong lòng mãi mãi vẫn là những cảm xúc thật đẹp”.
Và cũng có sự vui nhộn mang chút đáo để: “Giữa
đêm đông rét mướt, lính trẻ chuẩn bị sẵn chừng chục bị đông nước suối lạnh ngăn
ngắt, bắt lính già tường thuật lại đã ăn nằm với vợ lần đầu như thế nào. Oai
oái phân trần rằng tao lấy vợ tảo hôn; rằng buồng vợ chồng tao ở ngay cạnh buồng
cha mẹ, giường tre cọt kẹt một chút là nghe tiếng tằng hắng của hai cụ liền; rằng
thuở xưa đàn bà mặc quần thắt dải rút, đâu luồn dây thun như thời nay, tạo loay
hoay gỡ được cái dải rút buộc rối thì gà đã te te gáy sáng rồi; rằng đêm ấy đâu
dám thắp đèn nên mô tê có thấy gì đâu ... Không khai thật à, không chịu diễn tả
tỉ mỉ, cụ thể sao? Chịu được một hay hai, hay ba bi đông nước suối tưới lên
mình đây? Thế là đành khai tuốt tuột”.
Tuy nhiên, những kỷ niệm “mau nhớ lâu quên” thường là
nỗi ngậm ngùi về đồng đội không có cơ hội chung hưởng hòa bình: “Trong mười một
thằng lính Hà Nội tiểu đội tôi mua nón Ba Đồn gửi về cho người yêu đêm qua phà
Ròn năm ấy, đã nằm lại trên mảnh đất các chiến trường mất tám thẳng. Đứa chết
vì đạn bắn thẳng. Đứa chết vì pháo bầy, vì bom tọa độ. Đứa chết do sốt rét ác
tính. Cũng có đứa chết tức tưởi vì bị cây đổ đè vỡ xương chậu trong mùa phát
nương trồng sắn chống đói cuối năm 1969. Vài đứa sống sót trở về Hà Nội, như hẹn
ước với nhau, không bao giờ dám mở miệng nhắc lại chuyện đã mua những chiếc nón
Ba Đồn gửi cho người yêu thuở nào. Nhớ cả đấy, nhưng nhắc để làm gì? Những người
bạn gái của chúng tôi đều đã nhận được những chiếc nón lá Ba Đồn. Nhưng chiến
tranh kéo quá dài mà tuổi xuân thì có hạn. Trách móc chị này, em kia không thủy
chung chả cố chấp lắm sao? Dăm ba người tình của những thằng bạn xấu số khóc
lóc, vật vã đến võ vàng, tiều tụy cả năm ròng sau ngày nhận được giấy báo tử
người yêu chết trận, các chị các em châm lửa đốt chiếc nón đã ngả vàng đi, để
bước chân sang một bến đò khác, để lấy chồng, mà sinh con đẻ cái, mà làm bà nội
bà ngoại”.
Nhà văn Tô Hoàng quan niệm: “Văn chương vừa thắp sáng trong ta những tia hy vọng vừa cuốn ta vào mê hồn trận những ảo tưởng triền miên. Điều kỳ lạ là hình như không một người viết nào ân hận vì con đường đã chọn”. Ở tuổi 85, ông có một trí nhớ đáng nể. Những câu chuyện thời khói lửa được ông kể lại thật chi tiết và thật tỉ mỉ. Đó là những câu chuyện ít được hoặc chưa từng xuất hiện trên báo chí và văn chương như “Thời chiến rất cần đến cố vấn tình ái”, “Sex với lính tránh cánh bắc Kon Tum” hoặc “Ở rừng, ngày mưa, xem phim cởi truồng”. Đó là mảng ký ức g được ông dành riêng cho những bạn bè viết lách cùng thế hệ, như Chu Cẩm Phong, Đỗ Chu, Tô Đức Chiêu, Hà Đình Cẩn, Trần Luân Tín...
Đặc
biệt, bằng trải nghiệm của người lính già gắn bó Trường Sơn suốt 10 năm thanh
xuân, nhà văn Tô Hoàng có cách hiểu thơ Phạm Tiến Duật không giống phần đông độc
giả và giới phê bình. Ông cho rằng, cái tài tình của Phạm Tiến Duật là nhìn ra trong
nét sinh hoạt bình thường nơi chiến trường có một điều gì rất thơ, rất đẹp, lại
giàu tính thẩm mỹ. Ví dụ, câu thơ “nước khe cạn bướm bay lèn đá” được Tô Hoàng
phân tích: “Ừ thì dưới khe không còn nước bướm bay ra chứ sao? Bạn trẻ có thể
bình thản tiếp nhận câu thơ này, nhưng cánh lính già chúng tôi thì hiểu khác
hơn. Vào những ngày mưa rừng tầm tã, suối khe ào ạt nước chảy thì trong rừng
không hề có bướm. Và chỉ khi suối khe cạn nước, tức mùa khô đã tới, những đàn
bướm rừng từ đâu mới túa về. Và những cánh bướm nhiều sắc màu cùng mùa khô, với
Trường Sơn, với các mảnh đất chiến trường khác, là thời điểm náo nức, chộn rộn,
cũng là những tuần, những ngày rạo rực, vui buồn lẫn lộn nhất, nghĩ ngợi nhiều
nhất trong một năm, khi sắp phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết, tức “thời
điểm làm ăn” khi trận mạc lại bắt đầu”./.
LÊ
THIẾU NHƠN


