Tập thơ “Cửa mở” từng gây nhiều hệ lụy cho nhà thơ Việt Phương. Thế nhưng, những câu thơ gần sáu thập niên trước, vẫn còn khắc khoải hôm nay: “Đảng không làm chủ ta mà dạy ta làm chủ/ Đảng của ta khi lịm đi không sống nữa/ Sẽ để lại cuộc đời chỉ còn rực rỡ có tình yêu”.
Thơ viết về
Đảng không ít, nhưng đọng lại không nhiều. Bởi lẽ, đây là đề tài dễ sa vào hô
hào sáo rỗng, trượt khỏi giá trị thi ca. Ngay một nhân vật tầm cỡ như nhà thơ Chế
Lan Viên cũng không thể hiện được tài năng xuất chúng, qua “Kết nạp Đảng trên
quê mẹ” viết năm 1949 và “Nghĩ về Đảng” viết năm 1966.
Thơ viết về
Đảng có sức lan tỏa công chúng, vượt trội là nhà thơ Tố Hữu (1920-2002) và nhà
thơ Việt Phương (1928 -2017). Mỗi người tạo được một dòng thẩm mỹ riêng, nhà
thơ Tố Hữu dạt dào ngợi ca còn nhà thơ Việt Phương cẩn trọng cảnh tỉnh.
Sự nghiệp
của nhà thơ Tố Hữu đã được khẳng định trong nhiều luận án văn chương, thậm chí
có cả những “nhà Tố Hữu học”. Con đường sáng tác của nhà thơ Việt Phương khiêm
tốn hơn. Sinh thời, ông chỉ xuất bản bốn tập thơ “Cửa mở” (1970) “Cửa đã mở” (2008)
“Bơ vơ đông đảo” (2009) và “Cỏ dọc đường trần” (2010).
Để dùng vần
điệu cảnh tỉnh Đảng, nhà thơ Việt Phương quan niệm: “Thơ trong chiều sâu nỗi
đau/ Đời như con tàu rẽ sóng/ Bọt sủi lềnh bềnh mơ mộng/ Đằng xa mở rộng chân
trời”. Và ông định nghĩa về Đảng, từ sự khái quát “Đảng là máu, nước mắt, mồ
hôi dân nghèo mình tụ lại/ Thành những cánh rừng vùng lên đi, những ruộng đồng
bừng lên nói” đến sự cụ thể “Đảng là cái ta làm, hơn cả cái ta theo/ Ta nuôi Đảng
bằng lòng ta như dùng than nuôi lửa”.
Tập thơ “Cửa
mở” từng gây nhiều hệ lụy cho nhà thơ Việt Phương. Thế nhưng, những câu thơ gần
sáu thập niên trước, vẫn còn khắc khoải hôm nay: “Đảng không làm chủ ta mà dạy
ta làm chủ/ Đảng của ta khi lịm đi không sống nữa/ Sẽ để lại cuộc đời chỉ còn rực
rỡ có tình yêu”.
Nổi tiếng
nhất trong vùng thơ cảnh tỉnh Đảng của nhà thơ Việt Phương là bài thơ “Cuộc đời
yêu như vợ của ta ơi”. Cả thảy 48 câu, bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi” nhìn
lại chặng đường từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1969: “Một phần tư thế kỷ đã qua
đi và bây giờ ta đã biết/ Thế nào là thương yêu thế nào là chém giết/ Ta đã thấy
những chỗ lõm chỗ lồi trên mặt trăng sao/ Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng
cao”.
Nhiều năm
làm thư ký cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Việt Phương thuộc giới trí thức
cung đình thấu hiểu mọi biến động thời cuộc. Quá trình thai nghén tập thơ “Cửa
mở”, ông hấp thụ đầy đủ những hỉ nộ tang thương chủ nghĩa xét lại của Khrushchev
chống sùng bái cá nhân Stalin ở Liên Xô, lẫn cuộc cách mạng văn hóa do Mao Trạch
Đông phát động ở Trung Quốc tạo điền kiện cho “bè lũ bốn tên” đẩy các khai quốc
công thần Bành Đức Hoài, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, Hạ Long, Đào Chú… vào
vòng oan khuất.
Vì vậy, nhà
thơ Việt Phương không chỉ báo động: “Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa/
Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương/ Đã chọn đường đi, chẳng ai dừng ở
giữa/ Mạc-tư-khoa còn hơn cả thiên đường/ Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn
đồng hồ Thuỵ Sĩ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng
trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch
làm sao”, mà ông còn ưu tư: “Ta hiểu được những ai đã sai và có thể còn sai/ Và
chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa/ Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng
con người/ Phía trước, đằng sau, bên ngoài và chính giữa”.
Mùa xuân
Bính Ngọ, kỷ nguyên vươn mình đã khởi động, với thiện chí mà nhà thơ Việt
Phương từng mong mỏi: “Mở đài địch như mở toang cánh cửa/ Nghe nó chửi ta mà
tin ở ngày mai”. Để ý Đảng càng ngày càng hợp lòng dân, thì mỗi đảng viên cần
thấm nhuần những câu thơ cảnh tỉnh của Việt Phương: “Năm xưa ta vô tình tô đẹp
cuộc đời để mà tin/ Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả/ Quen thuộc
rồi mọi bất ngờ kỳ lạ/ Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn/ Ta đã gặp những điều
không hề chờ đợi gặp/ Nào đâu phải chỉ là rắn phục giữa vườn hoa/ Những kẻ tốt
đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách/ Rắn còn nằm cuộn khúc giữa lòng ta”.
LTN


