Rồi một
hôm... đi ngang qua trường Đại học Sư phạm, tôi thấy mặt trước trường treo một
tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: “Hạ bệ Phạm Duy-Hoàng Thi Thơ và
Trịnh Công Sơn”. Tôi hơi bất ngờ nhưng rồi tôi cũng hiểu được. Tôi nghĩ ngay đến
mối quan hệ giữa một số anh em Phong trào ở Đại học Sư phạm với những người mà
sau này gọi là “các ông Ba mươi” ở Sài Gòn.
NHẠC SĨ TRỊNH
CÔNG SƠN CÓ MỘT THỜI NHƯ THẾ
NGUYỄN
ĐẮC XUÂN
Trịnh Công
Sơn là một thiên tài âm nhạc, một nhân vật văn hoá lớn của Việt Nam thế kỷ XX.
Cuộc đời anh thuộc về lịch sử dân tộc, không của riêng ai. Lịch sử thì rất cứng
đầu, những gì không thực thì không bao giờ tồn tại. Chỉ có một vần đề những người
yêu mến anh suy tính là: “Chuyện gì đó liên quan đến anh hôm nay đã nên viết ra
hay chưa? Nếu viết ra chưa tiện thì hãy để đó chứ không nên viết khác”. Bởi vì
viết khác là làm nhiễu thông tin, sẽ có người cải chính đâm ra phiền. Viết khác
có nghĩa là cố tình viết sai sự thực để minh hoạ cho một ý tưởng cá nhân nào đó
khác với chuyện muốn viết sự thực nhưng do trình độ, do thiếu thông tin nên viết
chưa tới. Những gì viết chưa tới mà được người biết chuyện giúp thông tin để viết
cho tới thì quý hoá vô cùng. Nên hoan nghinh.
Từ sau
ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “trở về với cát bụi” (1/4/2001), có một số phương
tiện truyền thông trong và ngoài nước đưa nhiều tin tức liên quan đến thời gian
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn công tác tại quê nhà Thừa Thiên Huế sau ngày thống nhất
đất nước (30/4/1975), không đúng với sự thực. Sự “không đúng” ấy đã gây ra nhiều
ngộ nhận đáng tiếc. Ngộ nhận ngay cả với một số người thân nhất của Sơn. Tôi
không có đủ thời gian và phương tiện để kê ra đây hết những thông tin sai sự thực
và những ngộ nhận đáng tiếc đã xảy ra. Trong hoàn cảnh công tác của mình lúc ấy
và mối quan hệ bạn bè với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi chỉ có thể kể một số chuyện
để góp phần “nói lại cho rõ” những thông tin sai sự thực mà nhiều người muốn biết
sự thực.
Chuyện
bắt đầu từ Hà Nội
Tháng 5
năm 1975, đi chữa bệnh ở nước ngoài về, trước khi trở lại Huế tôi và một số anh
em sinh viên học sinh đã tham gia các Phong trào đấu tranh ở các đô thị miền
Nam, được đến thăm nhà thơ Tố Hữu tại nhà riêng của ông trên đường Phan Đình
Phùng. Ông Tố Hữu biết tôi có quan hệ bạn bè với các nhạc sĩ Phạm Duy, Trịnh
Công Sơn nên đã dặn tôi:
- “Em vào
Sài Gòn nói với các anh Phạm Duy, Trịnh Công Sơn hãy cứ ở đó chứ đừng đi đâu cả.
Đất nước thống nhất rồi, nói với anh Phạm Duy tiếp tục sáng tác đi. Lấy khúc đầu
(kháng chiến) nối với khúc đuôi (hoà bình), để khúc giữa qua một bên”
Giữa tháng
5/1975 tôi vào Huế rồi đi Đà Lạt thăm mẹ tôi. Nhân thể tôi ghé vào Sài Gòn thì
được biết anh Phạm Duy đã đi rồi, còn anh Trịnh Công Sơn thì đã tham gia công
tác với “anh em phong trào” Sài Gòn ngay khi chính quyền Sài Gòn vừa đầu hàng
quân đội Giải phóng. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vô tình đã thực hiện đúng với sự
mong muốn của ông Tố Hữu. Tuy nhiên, qua những bạn bè vừa đi chữa bệnh ở miền Bắc
về cho biết:
- “Đối với
lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều “anh em Phong trào” ở Sài Gòn
không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây”.
Trước khi
đi thoát ly kháng chiến, tôi xuất thân trong Phong trào Phật giáo nên quan điểm
lập trường của tôi cũng chung chung thế thôi. Sau khi đi kháng chiến đụng đầu với
địch, nếu không dứt khoát chuyện địch ta thì khó có thể thắng được đối phương
hùng mạnh như thế nên tôi phải thay đổi. Với kinh nghiệm bản thân, tôi hiểu
hoàn cảnh của Trịnh Công Sơn. Khi có điều kiện đi vào thực tế, tôi tin là Trịnh
Công Sơn sẽ tự xác định được chỗ đứng của mình. Cho dù “nhận thức cách mạng” của
tôi và Trịnh Công Sơn lúc ấy có một độ chênh như thế, trong ý nghĩ của tôi vẫn
không có bất cứ một sự phân biệt nào đối với Sơn.
“Công”
nhiều hơn “tội” (nếu có).
Trước ngày
thống nhất đất nước nhiều sinh viên Huế bị đánh bật khỏi Huế, hoặc bị địch bắt
đưa vào giam ở các tỉnh phía Nam hoặc bị đưa ra đảo cầm tù. Sau ngày giải
phóng, những người có trách nhiệm với Phong trào sinh viên học sinh Huế đánh điện
mời anh em về Huế. Hai người về trước là họa sĩ Bửu Chỉ và sinh viên Luật Nguyễn
Duy Hiền. Có lẽ do tác động của anh Nguyễn Khoa Điềm (Phó ban Tuyên giáo Thành ủy
Huế) và Hoàng Phủ Ngọc Tường (Trưởng ty Thông tin Văn hoá Quảng Trị vừa về công
tác ở Huế) nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng được mời về Huế để lập Hội Văn nghệ Thừa
Thiên Huế. Như thế Trịnh Công Sơn thoát được cái “không khí nghi kỵ” ở Sài Gòn
thời gian sau tháng 5-1975.
Rồi một
hôm... đi ngang qua trường Đại học Sư phạm, tôi thấy mặt trước trường treo một
tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: “Hạ bệ Phạm Duy-Hoàng Thi Thơ và
Trịnh Công Sơn”. Tôi hơi bất ngờ nhưng rồi tôi cũng hiểu được. Tôi nghĩ ngay đến
mối quan hệ giữa một số anh em Phong trào ở Đại học Sư phạm với những người mà
sau này gọi là “các ông Ba mươi” ở Sài Gòn. Tôi hiểu được chuyện quá khích đó một
phần nhờ vào những hiểu biết Phong trào Vệ binh đỏ của Trung Quốc mà tôi đã thu
thập được trong thời gian nằm chữa bệnh ở Quế Lâm. Khẩu hiệu tranh đấu treo lên
thì rất dễ nhưng lấy xuống thì cả một vấn đề.
Tôi cũng
như nhiều người bạn yêu quý Trịnh Công Sơn thấy việc sinh viên Đại học Sư phạm
Huế đặt thái độ chính trị của Trịnh Công Sơn ngang với Phạm Duy và Hoàng Thi
Thơ là không đúng với thực tế nhưng không ai dám lên tiếng bảo vệ. Bản thân tôi
tuy là Đảng viên nhưng lý lịch quan hệ lung tung, nếu phát biểu “ngoài luồng”
là bị quy là “xét lại” ngay. Vì thế có nhiều người đến Hội Văn nghệ than phiền
với tôi về tấm banderole nêu trên, tôi vẫn ngậm câm. Trịnh Công Sơn rất buồn,
không ngờ anh về quê hương lại bị dội một gáo nước lạnh như thế.
Tác giả và
Trịnh Công Sơn ít gần nhau, nhưng trong những khúc quanh của cuộc đời luôn gặp
nhau.
Một buổi tối
tôi được mời toạ đàm tại Hội Văn Nghệ để trả lời câu hỏi “Trịnh Công Sơn có
công hay có tội?” Cuộc toạ đàm hôm ấy tôi còn nhớ rõ có Lê Khắc Cầm (đại diện
cho cơ sở trí thức ở Huế), Trần Viết Ngạc (Phụ trách giáo dục), Trần Hoàn (Trưởng
ty TTVH), Thanh Hải, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn
Đắc Xuân (các cây bút chủ chốt của Hội Văn Nghệ vừa ở chiến khu về), và một vài
người nữa tôi không còn nhớ tên... Tôi không nhớ những ai đã phát biểu lên án
và những ai đã bảo vệ cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi chỉ nhớ
anh em đề cập đến “tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là anh đã làm nhạc phản chiến
một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh
giải phóng dân tộc (bài Gia tài của mẹ với câu Hai mươi năm nội chiến từng
ngày), thậm chí anh còn làm nhạc ca ngợi địch (bài “Cho một người nằm xuống
thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận)... Nhiều người
phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn: “Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản
nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy
giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do,
anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc
trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hoà. Rất
nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh.
Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả.
Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân
mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lệnh trịch thu những bài
hát của Sơn”.
Để minh hoạ
cho ý tưởng đó, một anh nào đó (hình như anh Trần Viết Ngạc hay anh Lê Khắc Cầm
gì đó tôi không nhớ) lấy trong cặp ra một xấp báo Sài Gòn xuất bản trước tháng
5/1975 có đăng lịnh của Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số
33 ngày 8/2/1969. Xấp tư liệu có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự
toạ đàm. Trong không khí dễ cảm thông đó, hình như anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã
kể: “Hồi ở trên rừng khi nghe Trịnh Công Sơn sáng tác bài Cho một người nằm xuống
thương tiếc Đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tôi rất tiếc cho Sơn. Sau nầy
được biết, trong những năm tháng Sơn trốn lính căng thẳng, Lưu Kim Cương đã tận
tình che chở cho Sơn, chính vì cái ơn ấy mà Sơn đã viết bài ấy. Ta nên thông cảm
cho hoàn cảnh đặc biệt của một người nghệ sĩ”.
Kể “tội”
xong, anh em nói đến “công” của Sơn. Trịnh Công Sơn đã cùng với Ngô Kha làm báo
Tự Quyết, Mặt trận Văn hoá dân tộc miền Trung – do cơ sở của Thành ủy Huế tổ chức.
Sơn sáng tác nhiều bài nhạc kêu gọi hoà bình hoà hợp dân tộc thống nhất đất nước
theo chủ trương của Mặt trận Giải phóng như các bài Huế - Sài Gòn - Hà Nội, Nối
vòng tay lớn, Ngọn lửa Thích Chơn Thể... Những bài nhạc này có ảnh hưởng tốt đối
với các phong trào đấu tranh yêu nước ở các đô thị miền Nam trước ngày đất nước
thống nhất.
Kết luận của
cuộc toạ đàm là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc chưa có hoàn cảnh quan hệ với Cách mạng
thì có một quan điểm yêu nước chung chung, Sau khi quan hệ với cơ sở cách mạng
(trong đó có Ngô Kha), quan điểm lập trường của Trịnh Công Sơn trong giai đoạn
cuối của cuộc đấu tranh yêu nước đứng hẳn về phía Cách mạng. Như thế “công” của
Trịnh Công Sơn lớn hơn ‘tội” của anh (nếu có).
Sau cuộc
toạ đàm tổ chức giao cho anh Hoàng Phủ Ngọc Tường - bạn thân của Trịnh Công
Sơn, trao đổi với Trịnh Công Sơn viết tự nhận xét mình. Đây là một hình thức kiểm
điểm cán bộ - một sinh hoạt thường xuyên của tổ chức cách mạng. Cho đến lúc ấy
tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tự kiểm điểm không biết bao nhiều lần. Những
bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường bị viết lại. Chính vì thế mà có người
muốn được thông qua đã viết quá về những khuyết nhược điểm của mình để cho xong
việc. Với kinh nghiệm ấy anh Tường đã khuyên Trịnh Công Sơn nên làm lẹ đi. Trịnh
Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này cho nên có ý trách anh Tường “đã ép Trịnh
Công Sơn”. Về sau có người khai thác chuyện này gây cho quần chúng yêu mến Trịnh
Công Sơn ở trong nước và ngoài nước suốt một thời gian dài hiểu lầm anh Tường đến
nỗi những người hiểu anh Tường phải đứng ra “làm chứng” cho anh Tường mới dập tắt
được sự hiểu lầm ấy.
Tôi không
nhớ tấm banderole treo trước Đại học Sư phạm được lấy xuống trước hay sau khi
có cuộc toạ đàm “Trịnh Công Sơn có công hay có tội”. Nhưng dù sao hai sự kiện ấy
cũng có quan hệ với nhau. Nhờ sự đánh giá của cuộc tọa đàm, dư luận trong các
cơ quan tư tưởng chính trị (văn hoá văn nghệ) yên tâm về người nhạc sĩ đã có ảnh
hưởng lớn trong quần chúng trước tháng 5.1975 ở miền Nam.
Trịnh
Công Sơn cũng là một người viết ký hay
Nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn được biên chế vào Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế. Được sống hoà đồng, được
lĩnh mọi tiêu chuẩn về vật chất giống như anh em văn nghệ, với cán bộ kháng chiến,
Trịnh Công Sơn rất vui. Đặc biệt những người ái mộ anh không còn e dè gì trước
mọi người để đến chơi với anh ở gian nhà đầy kỷ niệm 11/3 Nguyễn Trường Tộ.
Trước và
sau Tết Bính Thìn 1976 - cái tết giải phóng đầu tiên, thành phố Huế rộn ràng
chuẩn bị “chiến dịch” truy quét văn hoá phẩm “dâm ô” và “phản động”. Nhiều cuộc
toạ đàm, hội họp thảo luận ráo riết về các nội dung “dâm ô” và “phản động”. Những
anh em trí thức ở Huế am hiểu văn học vùng tạm chiếm được mời tham luận hay
phát biểu về hai nội dung trên. Trong sổ tay của tôi còn ghi một đoạn ghi chép
sau đây:
“Họp tối
9.2.1976 tại Thành ủy Huế.
Chủ đề:
Quét sạch xuất bản phẩm phản động và dâm ô.
Thành phần
tham sự có 31 người, trong đó có Trần Hoàn (TTVH tỉnh TTH); Nguyễn Khoa Điềm,
Nguyễn Đắc Xuân (Tuyên huấn Thành phố), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn, Bửu
Chỉ, Võ Quê, Tô Nhuận Vỹ, Lê Khắc Cầm (Hội Văn Nghệ Tỉnh), Bửu Nam (Sinh viên Đại
học), Nguyễn Văn Bổn (tức Tần Hoài Dạ Vũ, Trường học)...
Phát biểu
của Trịnh Công Sơn: “Văn hoá là nhu cầu của tinh thần, không thể xoá sạch được.
Muốn xoá sạch phải có cái khác thay thế, còn không thì không thể xoá được. Phải
“chống” và “xây dựng” song hành. Ta phải có văn hoá của ta: Đó là một thứ văn
hoá “có thực”chứ không phải thứ văn hoá “dựng đứng”. Nói về những thứ ta chống
phải nói như thế nào, nói không khéo lại mắc phải khuyết điểm tuyên truyền cho
ngưới ta tìm đọc. Văn hoá phẩm “đồi trụy” dễ xoá chứ nói “phản động” thì khó
hơn. Địch sử dụng Tivi, Radio, sách báo... Ta chống thì cũng phải qua các cửa
ngõ đó. Phải có kế hoạch và liên tục”.
Hơn hai
mươi sáu năm sau (1976-2002), đọc lại mấy dòng ghi chép ý kiến của nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn trong cuốn sổ tay cũ, tôi hết sức thú vị. Nếu Trịnh Công Sơn không có
một quan điểm chính trị đúng đắn, không có một trình độ văn hoá cao, không có một
tình cảm yêu cuộc sống mới chân thành, không được tự do tư tưởng, không tin
mình, không dũng cảm thì làm sao anh có thể phát ra được những ý kiến chí lý đến
như thế giữa một cuộc họp mang tinh tư tưởng chính trị như thế?
Sau tháng
5/1975, hơi nhạc của Trịnh Công Sơn chưa nhập được với nhịp điệu của cuộc sống
mới nên nhạc mới của anh chưa hay. Nhiều người tiếc cho anh đã làm những bài ca
ngợi lao động sản xuất như bài nói về một cô gái nông thôn: “Gánh, gánh, gánh,
gánh rau về chợ”. Một người làm tình ca mang tính triết lý trừu tượng nổi tiếng
làm sao mới đầu hôm sáng mai có thể chuyển mạch qua sáng tác theo “hiện thực xã
hội chủ nghĩa” được? Bản thân tôi cho đến lúc ấy đã trải qua hàng chục năm
tranh đấu và kháng chiến mà cũng chưa có được một câu thơ nào ca ngợi sản xuất
cả! (Về sản xuất tôi chỉ viết truyện và ký thôi).
Cho nên lúc ấy nghe Trịnh Công Sơn trình bày
những “sáng tác mới” phục vụ sản xuất của anh tôi vừa phục anh vừa quý anh. Phục
là anh đã chịu khó dấn thân vào thực tế, viết phục vụ chính trị của đất nước vừa
hoà bình độc lập. Chất nhạc vẫn là nhạc Trịnh Công Sơn, không lẫn vào đâu được,
chỉ phần lời hơi thô thiển xa lạ với ca từ vốn có của anh thôi. Quý anh là một
nhạc sĩ nổi tiếng như thế mà vẫn không tự kiêu tự mãn với quá khứ của mình mà
chịu cùng anh em bạn bè dấn thân vào cuộc sống mới, sáng tác để góp một cái gì
mừng đất nước hoà bình độc lập. Tôi không rõ các anh Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần,
Phùng Quán... sau ngày tiếp quản Hà Nội (1955) có “chịu chơi” như Trịnh Công
Sơn sau 5/1975 không?
Trịnh Công
Sơn biết “nhạc mới” của mình chưa hay, anh phục vụ văn học nghệ thuật xã hội chủ
nghĩa bằng những bút ký. Sau mỗi lần đi thực tế ở Bình Trị Thiên, anh luôn có một
ghi chép hay bút ký rất thú vị. Sau lần đi thực tế công trường xây dựng thủy lợi
Nam Thạch hãn anh có bút ký Nam Thạch hãn Những ngày đầu tháng ba (Văn Nghệ
BBT, số 9/năm 1978), đi chuyến tàu thống nhất đầu tiên anh có ghi chép và cả một
bài nhạc nữa. Có lẽ đây là một bài viết không thể thiếu trong lịch sử phục hồi
đường sắt sau ngày nước nhà thống nhất. Trịnh Công Sơn đã tham dự Trại sáng tác
Cồn Hến.
Dự trại
sáng tác mà Trịnh Công Sơn không viết nhạc mà lại viết ký. Rất tiếc các báo chí
của Trung ương lúc ấy còn quá thiên về chính trị nên những bài viết của anh chỉ
đăng trên báo chí địa phương và đoàn thể như Văn nghệ Thừa Thiên Huế, Văn Nghệ
Bình Trị Thiên, Đứng Dậy... Do đó không có nhiều người được đọc ghi chép, bút
ký vào thời ấy của anh. Tôi rất quý anh nên tôi còn giữ được một số bài viết của
anh trong giai đoạn nầy. Hồi trước ngày giỗ đầu của Trịnh Công Sơn (1.4.2002)
tôi đã sao các bài viết ấy + nhạc phẩm kèm theo các bài viết gởi tặng nhà phê
bình văn học Đặng Tiến ở Pháp và Hội quán Hội Ngộ ở Thành phố Hồ Chí Minh.(3)
Xin trích
lời của bài hát:
Con đường
mùa xuân:
1. Đường
đã tới Bắc Nam (hm..hm) nay lại gặp nhau
Bao (...)
nhiêu (...) con người là bao yêu dấu
Đường đã nối
chuyến xe (é...e) hai miền chạy mau
Con sông
reo mừng cười dưới chân cầu
Trên quê
hương xuân vinh quang đất nước xanh lại mấy lần
Một rừng cờ
tươi như son đang vẫy tay chào nắng lên
Hà nội
tươi sáng mát nhìn miền Nam trái tim chồi non
Đường trăm
năm đến trong (hm..hm) một ngày
Một ngày
chúng ta tới
Chào toàn
thế giới này
Đường đã tới
nước ta là một từ đây
Bước chân
vững vàng về tương lai mới
Toàn thế
giới sáng lên một mặt trời thôi
Nơi đây
anh hùng là những con người.
2. Đường
đã tới có trong (hm..hm) tiếng cười trẻ thơ
Bao nhiêu
hy vọng màu xanh như lá
Đường đã tới
có trong những đời tự do
Bao nhiêu
xuân hồng rực rỡ đi về
Nghe trong
ta xuân bao la, vĩnh viễn không còn xuân chờ
Từng cuộc
đời, vươn tay xa, gieo xuống những mùa ấm no
Ngày mai
tiếng hát lên từ, hạt cơm trắng không buồn lo
Miền đất hứa,
chúng ta (á...a) đang về
Vội vàng
bước chân nhé,
Nhịp nhàng
sức thi đua.
Đường đã tới,
có trong độc lập tự do
Bao nhiêu
con người dựng xây khai phá
Đường sẽ tới,
có trên (hm...hm) khắp miền gần xa
Long lanh
ánh đèn, lộng lẫy phố nhà.
(Văn Nghệ
Thừa Thiên Huế, số 1 Tháng ba /1976, tr.70-71)
Đi cải
tạo hay đi sản xuất tự túc?
Tôi không
rõ căn cứ vào tài liệu nào mà có người (kể cả một người thân nào đó của Trịnh
Công Sơn nói trên đài VOA) bảo rằng sau tháng 5/1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã
bị đi cải tạo ở Thừa Thiên Huế. Nhiều bạn bè của tôi rất có uy tín, rất được
tín nhiệm ngày nay hồi ấy cũng đã từng bị đi cải tạo một thời gian. Không riêng
gì những người có dính một chút với “ngụy quân ngụy quyền” phải đi cải tạo, hồi
còn chiến tranh, nhiều cán bộ Đảng viên cách mạng hẳn hoi chỉ vì một câu nói bị
hiểu lầm cũng đã phải mang ba-lô vào trại sản xuất kia mà.
Cho nên hồi
ấy, nếu không được Thành ủy Huế và các anh chị em trong Phong trào hiểu Trịnh
Công Sơn, Trịnh Công Sơn (với những cái “tội” nêu trên) có bị đi cải tạo ít tuần
cũng là chuyện bình thường. May mắn là chuyện ấy không hề xảy ra đối với anh.
Các hoạ sĩ Đinh Cường (hiện ở Virginia, Mỹ), hoạ sĩ Tôn Thất Văn (hiện ở
TP.HCM), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà dịch thuật Bửu Ý, hoạ sĩ Bửu Chỉ
(đang sống ở Huế) rất thân thiết với Trịnh Công Sơn đều khẳng định không có
chuyện ấy. Thế mà có người viết:
“Vùng kinh
tế mới – nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bị đày dưới hình thức lao động cải tạo nằm
ngay biên giới của tỉnh Quảng Trị. Những ngày lụt nước ngập ngang ngực, ngày
nào cũng có người bị chết hoặc bị thương do mìn nổ. Ở đó, một gia đình nông dân
có con gái ái mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cho ông mượn trâu để cày bừa...”
(Hoàng Dược Thảo, Những sự thật nên viết ra về một thiên tài âm nhạc vừa năm xuống,
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn... tài liệu lấy trên Internet, tr. 2/7).
Nhưng vì
sao lại có dư luận ấy? Theo tôi, trừ những người cố tình xuyên tạc sự thực để
bôi nhọ Việt Nam sau tháng 5-1975, có lẽ người ta đã hiểu nhầm việc đi lao động
sản xuất tự túc là đi cải tạo chăng? Nếu quan niệm đi tham gia lao động sản xuất
tự túc là đi cải tạo thì cả Đảng bộ và chính quyền Thừa Thiên Huế lúc ấy đều bị
đi cải tạo cả. Thời ấy có ông bà thủ trưởng xuống tận người gác cửa cơ quan nào
không đi lao động sản xuất sắn khoai để tự túc một phần lương thực đâu? Đầu năm
1977, tôi vừa có con đầu lòng, phải đi Bình Điền sản xuất tự túc, chiều về ngồi
trong trại nhớ con không cầm được nước mắt. Nhưng nào tôi có xin miễn được đâu!
Đi sản xuất rất vất vả, nhiều nữ giáo viên không biết đi xe đạp, phải nhờ chống
“thồ đi thồ về”.
Nếu chồng
không ‘thồ” được thì phải đi bộ từ bốn năm giờ sáng. Chiều về phải tám chín giờ
tối mới lết được đến nhà. Chuyện bắt cả bộ máy nhà nước, sinh viên học sinh,
giáo viên...bỏ việc chuyên môn, bỏ việc dạy và học đi phá rừng cuốc rẫy, đào lề
đường để trồng khoai sắn sản xuất tự túc là một chủ trương sai lầm. Bây giờ nhớ
lại chuyện ấy không ai không chê trách. Nhưng nói chuyện đi sản xuất tự túc là
đi lao động cải tạo là hoàn toàn xuyên tạc. Đối với anh em văn nghệ sĩ lúc ấy
đi sản xuất tự túc như một cuộc đi chơi. Sắn khoai thu hoạch được không đủ bù
vào tiền mua gạo, thức ăn mang theo và tiền mua xăng ô-tô đi sản xuất. Đó là
chưa nói đến việc các văn nghệ sĩ không biết làm nông, mùa nắng gây cháy rừng,
mùa mưa gây xói mòn sạt lỡ đất đai rất tai hại.
Chính nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn cùng với các nhà văn nhà thơ Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế (sau
năm 1977 là Bình Trị Thiên) đã gây ra vụ cháy rừng thông trong khu vực lăng
Minh Mạng. Nếu không nhờ dân và cán bộ đến dập tắt đám cháy kịp thời thì có thể
tiêu luôn khu lăng Minh Mạng. May lúc đó xã hội chưa xem trọng di tích văn hoá
nên báo chí cho là chuyện bình thường, không một tiếng phê bình. Do đó anh em
văn nghệ xem chuyện cháy ấy như một kỷ niệm hồn nhiên của mình. Sau nhiều lần
đi sản xuất tự túc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã khoe với Mai (tức ca sĩ Khánh Ly)
trong một lá thư gởi sang Mỹ rằng: “Anh kể cho Mai nghe, bây giờ anh giỏi hơn
Mai nhiều. Anh biết trồng khoai, trồng sắn và cấy lúa”.
Có điều Trịnh
Công Sơn không kể với Khánh Ly là lần đầu đi trồng sắn anh đã gặm cái đầu hom sắn
xuống đất nên những cái hom ấy chết khô chứ không mọc được. Ôi còn biết bao
chuyện buồn cười trong cái buổi đầu “xây dựng xã hội chủ nghĩa” ở cái đất Cố đô
Huế ấy.
Mà lạ thật,
cuộc sống thiếu thốn mọi bề, nhưng tôi thấy Trịnh Công Sơn rất vui. Vì ai cũng
thiếu thốn cả chứ có như “kẻ ăn không hết người lần không ra” như bây giờ đâu!
Tôi còn giữ được mấy tấm ảnh Trịnh Công Sơn chụp hồi đầu năm 1976, trông anh
khoẻ và đẹp lắm. Anh sống một mình ở gian nhà cũ 11/3 Nguyễn Trường Tộ, nhưng
ít có hôm anh phải ngủ một mình. Không có Ngụy Ngữ thì có Trần Phá Nhạc, không
có Tôn Thất Văn thì có Đinh Cường, không có Bửu Ý thì có Định Giang, không có Đặng
Ngọc Vịnh thì có Lữ Quỳnh hay một anh chàng Hà Nội nào đó mến mộ Trịnh Công Sơn
đi qua Huế ghé thăm anh chơi...
Một số bạn
mới ái mộ anh cũng thường đến ở với anh như Mạnh Đạt (nhạc sĩ), Vinh Nguyễn
(nhà thơ)... Những người mới có gia đình như Hoàng Phủ Ngọc Tường, như tôi
(NĐX) thì ít khi đến ngủ với anh, thay vào đó là chúng tôi hay mời anh về nhà
ăn cơm. Đi ăn cơm khách nhưng Trịnh Công Sơn không thích ăn mà chỉ thích có một
xị “quốc lũi” hay xị rượu trắng Phủ Cam cay cay là thích nhất. Những lúc anh em
đi Hà Nội kiếm mua được một chai Vốt-ca của Liên Xô thì quý hoá vô cùng.
Quê
hương chỉ là “một cõi đi về”
Có thể nói
trước ngày đất nước thống nhất hàng chục năm Trịnh Công Sơn đã là một nhạc sĩ rất
nổi tiếng. Dù anh phải đi trốn lính, đi tham gia Phong trào tranh đấu hay núp
dưới bóng mẹ ở nhà, bao giờ anh cũng được bạn bè và gia đình chăm sóc miếng cơm
manh áo hết sức chu đáo. Sau tháng 5.1975, anh được mời về Huế tham gia công
tác ở Hội Văn Nghệ, mừng gặp lại bạn bè cũ, mừng đất nước hoà bình thống nhất,
vui thì có vui nhưng thật sự đó là một giai đoạn thử thách ghê gớm đối với đời
sống của anh. Với lương tháng 64 đồng là cao so với cán bộ, nhưng đối với Trịnh
Công Sơn, số tiền ấy không đủ để mua thuốc hút và mua rượu cho ba mươi ngày. Bởi
thế mỗi tháng thân mẫu anh phải gởi thêm cho anh một chỉ vàng và một vài ký-lô
thịt bò thưng hay thịt chà-bông.
Sau mỗi lần
nhận quà của mẹ, nhà Trịnh Công Sơn liên tiếp có những “tiệc” rượu nhỏ. Tiệc
cho đến hôm tiệc hết quà của mẹ gởi mới thôi. Người anh càng ngày càng gầy rộc
đi. Bởi thế mỗi năm có đến mấy bận Trịnh Công Sơn phải xin phép vào Thành phố Hồ
Chí Minh thăm mẹ. Nói đúng hơn là thăm mẹ để được mẹ bồi dưỡng lấy lại sức khoẻ.
Nhiều lần Trịnh Công Sơn vào ở nín trong thành phố hàng mấy chục ngày, nhân đó
anh tiếp xúc với bạn bè, văn nghệ sĩ của Thành phố. Anh gặp lại Phạm Trọng Cầu,
Trần Long Ẩn, và quen thêm Hoàng Hiệp, Nguyễn Quang Sáng .v.v.
Qua bạn
bè, anh biết lãnh đạo của thành phố cũng có người mến mộ anh. Biết hoàn cảnh của
Trịnh Công Sơn ở Huế có nhiều “bất tiện”, vào ra xe cộ khó khăn, anh em gợi ý
Trịnh Công Sơn nên xin chuyển công tác vào Thành phố Hồ Chí Minh, anh em sẽ
giúp xin lãnh đạo Thành phố chấp nhận anh. Ý kiến đó phù hợp với sự mong muốn của
gia đình Trịnh Công Sơn và có lẽ cũng “phù hợp” với ý muốn trả Trịnh Công Sơn lại
cho miền Nam của một số người ở Bình Trị Thiên.
Vào giữa năm 1978, tôi không nhớ vào tháng
nào, Trịnh Công Sơn về Huế làm hồ sơ chuyển công tác. Nghe tin đó chúng tôi hết
sức tiếc, nhưng cũng nhận thấy như thế là hợp lý, Trịnh Công Sơn không thể kéo
dài cuộc sống bấp bênh “ăn ít uống nhiều” ở gian nhà nhiều kỷ niệm trước nhà thờ
Phủ Cam lâu hơn nữa. Và, thân mẫu của anh cũng không thể rút ruột kéo dài tình
trạng phải gởi cho con trai làm công tác cách mạng ở Huế mỗi tháng một chỉ vàng
mãi được. Lúc bấy giờ khan hiếm gạo nên quán hàng bán rượu cất từ sắn tươi. Nhiều
khi người ta còn bỏ cả thuốc rầy vào rượu để tăng nồng độ của rượu. Tôi đã chứng
kiến một vài lần Trịnh Công Sơn uống rượu sắn với Dương Toàn Thắng (em ruột của
nhạc sĩ Mạnh Đạt) và ói mửa ra mật xanh mật vàng ngay tại chỗ. Không rõ có phải
vì uống rượu độc hại mà sau đó không lâu Dương Toàn Thắng chết vì xơ gan cổ trướng
không!
Trịnh Công
Sơn vào Nam, giao gian nhà kỷ niệm lại cho vợ chồng anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường-Lâm
Thị Mỹ Dạ. Không ngờ sau đó một năm (1979), anh chị Tường Dạ lại giao gian nhà
đó lại cho vợ chồng tôi (theo đề nghị của nhà văn Thanh Tịnh) để chị Dạ đi Hà Nội
học ở trường viết văn Nguyễn Du, anh Tường bồng bế các con vào tá túc trên mảnh
đất của gia đình ở Cầu Sơn quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Hoàng Phủ
Ngọc Tường là một trí thức cách mạng tiêu biểu, có quá trình tham gia kháng chiến
của tỉnh Bình Trị Thiên mà cũng ra đi. Điều đó chứng tỏ lúc ấy có một cái dịch
“chất xám của Bình Trị Thiên” chảy vào miền Nam. Trước và sau thời điểm Trịnh
Công Sơn chuyển công tác (1978), nhóm thanh niên Quảng Nam công tác ở Thành
đoàn Huế trước và sau ngày Giải phóng chuyển vào Đà Nẵng (Lê Công Cơ, Nguyễn
Thanh Minh, Huỳnh Phước....), một số hoạ sĩ bỏ nhiệm sở vào Nam hành nghề tự do
như Đinh Cường, Hồ Hoàng Đài, Tôn Thất Văn... một số cây bút năng động của Huế
như Trần Phá Nhạc, Lữ Quỳnh, Tần Hoài Dạ Vũ (Nguyễn Văn Bổn)... cũng không ở được
phải vào Nam. Vào đó thất nghiệp có người phải ra nằm ngoài bến xe miền Đông để
bán sách dạo, có người đạp xích lô nuôi vợ con.
Một số bác
sĩ làm việc ở Bệnh viện Huế quen biết chúng tôi vào Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Một
số cán bộ từ Hà Nội, Quảng Bình ở không nổi cũng xin đi (Trần Công Tấn, Lê Bá
Sinh...). Nhiều người thấy bạn bè của tôi “Nam tiến” cả, họ ngạc nhiên hỏi tôi:
“Ủa, ông chưa đi à?” Sự thật ở Huế tôi cũng xất bất xang bang chứ có được gì
đâu, nhưng ngặt vì tôi là người nghiên cứu Huế bỏ Huế mà đi thì lấy gì mà
nghiên cứu nên phải ở lại cho đến ngày nay. Nhắc lại vài dòng như thế để thấy
việc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở lại miền Nam năm 1978 là một tất yếu. Không có
cách nào khác hơn.
Cũng có
người nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phải rời quê hương lúc ấy vì anh không đủ sức
chống đỡ với những thế lực kèn cựa anh. Chuyện kèn cựa tài năng ở đâu và thời
nào chẳng có! Chuyện ấy nhắm mắt nói cũng đúng. Mà khi Trịnh Công Sơn đã vào
Thành phố Hồ Chí Minh rồi những kẻ kèn cựa tài năng với anh đã buông tha anh
đâu! Và, cho mãi đến khi tôi nhớ và viết lại những dòng này phải chăng chuyện
kèn cựa với Trịnh Công Sơn đã hết? Nếu hết chuyện kèn cựa thì có lẽ ông Nguyễn
Văn Quang – Bí thư Thành ủy Huế hiện nay đã có thể thực hiện được lời hứa với
báo chí “dành một con đường ở Huế đặt tên Trịnh Công Sơn” và dành một nơi làm
“Một cõi đi về” của Trịnh Công Sơn ở Huế rồi!
Nếu hết
chuyện kèn cựa thì có lẽ không còn có người tuyên bố xanh rờn rằng: “Ca khúc mà
như của Trịnh Công Sơn thì một ngày mình có thể làm đến mười bài!” Có nghĩa là
cả sự nghiệp hơn 600 ca khúc của Trịnh Công Sơn con “người nhạc sĩ” có câu
tuyên bố xanh rờn ấy chỉ làm trong 60 ngày (hai tháng) là xong tất! Những người
được nghe câu tuyên bố trên cầu nguyện cho mình được sống đến ngày “tác phẩm của
cả đời người” của ông “nhạc sĩ tài ba” trên ra đời để xem sao.
Khoảng năm
1982, Trịnh Công Sơn đưa một đoàn nhạc sĩ Thành phố Hồ Chí Minh về thăm Huế.
Tôi hướng dẫn đoàn đi chơi và tối về ở lại tại Biệt thự 11 Lý Thường Kiệt. Các
anh Phạm Trọng Cầu, Hoàng Hiệp, Trần Long Ẩn và chính Trịnh Công Sơn hát cho
tôi nghe những bài hát mới của Trịnh Công Sơn như Huyền thoại mẹ, Vẫn có em bên
đời, Em ra nông trường anh ra biên giới, Em còn nhớ hay em đã quên... Tôi hết sức
xúc động. Nếu Trịnh Công Sơn không có những cảm xúc mạnh về cuộc sống mới thì
không bao giờ anh có thể viết được những bài hát cách mạng như thế. Bà mẹ trong
Huyền thoại mẹ giống như những bà mẹ đã nuôi tôi ở vùng Truồi, Nước Ngọt hồi
chiến tranh. Nhạc cách mạng mà vẫn rất triết lý như thường :
“Mẹ là gió
uốn quanh / Trên đời con thầm lặng
Trong câu
hát thanh bình / Mẹ làm gió mong manh
Mẹ là nứoc
chứa chan / Trôi dùm con phiền muộn
Cho đời
mãi trong lành / Mẹ chìm dưới gian nan.”
Trịnh Công
Sơn tập cho tôi hát hai bài Huyền thoại mẹ và Vẫn có em bên đời.... Hát những
câu:“Em bây giờ quen sương nắng, tóc trên vai vấn vương bụi hồng.... Từ trên đất
này những con người mới mọc lên tựa tia nắng giữa chân trời” làm cho tôi nhớ lại
hình ảnh những cô gái trên công trường Nam Thạch Hãn mà Trịnh Công Sơn đã ghi lại
trong bút ký nêu trên. Đoạn cuối bút ký ấy Trịnh Công Sơn viết:
“Rời công
trường (Nam Thạch Hãn), hình ảnh một con kênh nước xanh như ngọc lại thoáng hiện
trong trí óc rồi nhường chỗ cho một nỗi nhớ khôn nguôi những con người đang pha
lẫn mồ hôi mình cùng với đất. Với sức người như thế biết bao nhiêu điều kỳ lạ
còn mọc lên nơi đây ” (T/c đã dẫn tr. 20).
Trịnh Công
Sơn thấy những cô gái trên công trường Nam Thạch Hãn ở Quảng Trị vào những ngày
đầu xây dựng đất nước, những cô thanh niên xung phong trên nông trường Dương
Minh Xuân đã trải qua thử thách bộc lộ được vẽ đẹp mới của mình. Vẻ đẹp ấy đã
làm cho cảm xúc của Trịnh Công Sơn chín muồi, anh không cần phải viết bút ký nữa
mà đưa ngay vào nhạc.
Vào cuối
những năm bảy mươi đầu những năm tám mươi tôi phải sống trong một hoàn cảnh hết
sức bức xúc. Nhiều người thân trong gia đình tôi và gia đình bà xã tôi, nhiều
người bạn của tôi mới gặp lại nhau sau 5.1975, rùng rùng đi làm hồ sơ xin bảo
lãnh ra nước ngoài hoặc âm thầm cởi sóng bể vượt biên. Một ông cậu của vợ tôi bảo
tôi: “Ở xứ mình bây giờ cái cột đèn ra đi được nó cũng ra đi!” Tôi biết thế
nhưng không nói năng được gì. Để khỏi phiền tôi giả lơ và tìm cách lẫn tránh để
khỏi bị nghi kỵ. Thơ văn, bút mực của tôi không có nghĩa lý gì đối với cái “dịch
vượt biên” ấy.
Bất ngờ
sau đó tôi được nghe bài “Em còn nhớ hay em đã quên” của Trịnh Công Sơn với
câu: “Em ra đi nơi nầy vẫn thế”. Trịnh Công Sơn thay mặt cho tất cả những người
ở trong nước thuộc thế hệ tôi gởi đến những người ra đi lời khẳng định chỗ đứng
của mình trong lòng dân tộc hồi ấy. Các bạn tôi ở nước ngoài phản ứng dữ dội.
Và cho đến ngày nay nhiều người ở nước ngoài thích đã hát bài Em còn nhớ hay em
đã quên nhưng vẫn lên án Trịnh Công Sơn. Các trang Web của những lực lượng thù
địch với Việt Nam vẫn còn nóng vì những bài phê phán Trịnh Công Sơn “theo Việt
Cộng”.
Có lần tôi
hỏi Trịnh Công Sơn: “Ông có biết người ta lên án ông đã sáng tác bài hát Em còn
nhớ... không?” Sơn cười tùm tỉm: “Mình biết lắm. Qua Paris có lúc mình phải đi
trốn. Qua Canada họ đến chỗ mình hát quậy tơi bời. Nhưng mình làm sao sống khác
hơn, viết khác hơn!” Thời bài hát ấy ra đời tôi đang say sưa nghiên cứu Huế nên
không theo dõi “thời sự sáng tác thơ nhạc” lúc ấy nên không rõ có nhạc sĩ nào,
nhà thơ nhà văn nào có tác phẩm “chống vượt biên” và có tác dụng như bài hát
trên của Trịnh Công Sơn không? Một giáo sư Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh bảo
tôi rằng:
- “Chỉ
riêng cái thành tích Trịnh Công Sơn viết những bài hát Huyền thoại mẹ, Em còn
nhớ hay em đã quên, Vẫn có em bên đời, Em là hoa hồng nhỏ... ra đời vào những
năm tám mươi khó khăn ấy cũng đủ trao cho tác giả những giải thưởng văn học nghệ
thuật cao nhất rồi! Nhưng... Nói theo kiểu Trịnh Công Sơn: Thôi kệ.”
Nhiều người
bạn của tôi và cũng là bạn của Trịnh Công Sơn ngày ấy ra đi bây giờ về thăm nhà
gặp tôi thừa nhận rằng: “Lúc đó mà Việt Nam cởi mở như thế nầy thì chẳng có mấy
ai phải ra đi. Trịnh Công Sơn và các ông xác định được chỗ đứng của mình trong
hoàn cảnh khó khăn lúc ấy là rất giỏi, rất đúng”. Theo tôi chuyện đúng hay sai
để cho lịch sử viết. Đối với tôi anh em bây giờ gặp lại nhau trong cảnh hoà
bình độc lập như thế nầy là quí lắm rồi. Xem chuyện cũ như những kỷ niệm, ai viết
được thì cứ viết và viết cho trung thực để cho con cháu của bọn mình sau nầy đọc
chơi.
Còn chuyện
“đi hay ở” của Trịnh Công Sơn, có lần tôi hỏi anh và anh tâm sự với tôi: “Thú
thật, mình xa cái đất nước nầy mình chịu không nổi và cũng không sáng tác được
ông à! Bọn mình mà sống sướng chưa chắc đã làm được như đã làm! Mình sáng tác
trong hoàn cảnh khó khăn, trong lúc vui buồn với đất nước. Sống sướng về vật chất
chưa chắc đã sáng tác được. Sống mà không sáng tác được làm sao sống ông? Các
em mình chúng đi hết rồi. Nếu mình bị bắt ra nước ngoài chắc mình phải vượt
biên ngược về thôi !”.
Từ sau
ngày đất nước thống nhất (5/1975) trải qua những năm “bao cấp” khó khăn cho đến
ngày có chính sách đổi mới hội nhập Trịnh Công Sơn đã có cùng hơi thở với đất
nước. Như thế đã đủ tiêu chuẩn để vinh danh anh rồi. Sau này thực tế cuộc sống
diễn ra không đúng với suy nghĩ của anh, anh lại có những trăn trở mới, có những
sáng tác mới. Đó là chuyện dễ hiểu đối với một nghệ sĩ sống với tư duy độc lập
của mình.
Giai đoạn cuối đời Trịnh Công Sơn sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều người hiểu Trịnh Công Sơn hơn tôi, cho nên tôi xin kết thúc bài viết này với một câu: “Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vĩ đại vì anh đã đem hết tài năng, sự sống suốt đời anh phụng sự quốc gia dân tộc”./.


