“Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên” là câu hát đã được nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) viết cách đây đúng 50 năm. Mùa xuân Bính Thìn 1976 thực sự mang ý nghĩa mùa xuân mơ ước cho biết bao người Việt, bởi cuộc kháng chiến trường kỳ đã kết thúc và đất nước thống nhất một dải non sông gấm vóc “từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người”.


Bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” được in trên báo Sài Gòn Giải Phóng tháng 1/1976 và lập tức được ca sĩ Trần Khánh (1931-1981) thu âm và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam tháng giêng Bính Thìn. Thế nhưng, sau đó “Mùa xuân đầu tiên” chìm vào im lặng suốt gần hai thập niên. Lý do, nhiều người cho rằng “Mùa xuân đầu tiên” được viết bằng giọng thứ, nhịp ¾  với điệu valse lãng mạn, hoàn toàn không phù hợp với hào khí ngút trời của xã hội ưa chuộng hùng ca dạo ấy.

Một nghịch lý bất ngờ xảy ra. Khi “Mùa xuân đầu tiên” vắng bặt trong đời sống âm nhạc nước ta, thì ca khúc này lại được chuyển ngữ và trình diễn trên Đài phát thanh Moskva của Liên Xô. Năm 1978, Nhà xuất bản Âm nhạc Moskva cũng đưa “Mùa xuân đầu tiên” vào tập nhạc xuân tuyển chọn, và trả bản quyền 100 rúp cho nhạc sĩ Văn Cao.

Vì vậy, thật trớ trêu, khi bộ phim ca nhạc “Văn Cao – Buổi sáng có trong sự thật” của đạo diễn Đinh Anh Dũng phát hành năm 1995, một số người Việt từng học tập và sinh sống tại Liên Xô thập niên 80 đã bày tỏ nghi ngờ về nguồn gốc ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” do ca sĩ Thanh Thúy hát. Đây là nhầm lẫn thú vị, vì họ từng nghe “Mùa xuân đầu tiên” dịch sang tiếng Nga, nên cứ tưởng nhạc sĩ Văn Cao viết lời Việt từ ca khúc Nga. Cho nên, nói theo tinh thần hội nhập quốc tế, “Mùa xuân đầu tiên” là tác phẩm âm nhạc đầu tiên của người Việt được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

Nhạc sĩ Văn Cao xứng đáng được xưng tụng bậc tài hoa Việt hàng đầu thế kỷ 20. Ông phô diễn khả năng bậc thầy ở cả ba lĩnh vực thi ca, âm nhạc và hội họa. Năm 1940, chàng trai 17 tuổi Văn Cao đã xuất hiện với ca khúc “Buồn tàn thu”. Chỉ trong vòng 10 năm, Văn Cao hoàn thành sự nghiệp âm nhạc cá nhân đồ sộ một cách rất ngoạn mục. Cụ thể, năm 1941 viết hai ca khúc “Thiên thai” và “Hò kéo gỗ Bạch Đằng Giang”, năm 1942 viết ba ca khúc “Suối mơ”, “Trương Chi” và “Đống Đa”, năm 1943 viết bốn ca khúc “Cung đàn xưa”, “Thu cô liêu”, “Bến xuân”, và “Thăng Long hành khúc”, năm 1944 viết hai ca khúc “Chiến sĩ Việt Nam” và “Tiến quân ca”, năm 1945 viết ba ca khúc “Bắc Sơn”, “Không quân Việt Nam” và “Hải quân Việt Nam”, năm 1946 viết ca khúc “Công nhân Việt Nam”, năm 1947 viết hai ca khúc “Làng tôi” và “Sông Lô”, năm 1948 viết hai ca khúc “Ngày mùa” và “Toàn quốc thi đua”, năm 1949 viết hai ca khúc “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” và “Tiến về Hà Nội”.

Đáng chú ý, ca khúc “Tiến về Hà Nội” khi ra đời đã bị cho là “lạc quan tếu”, vì ngày 10/10/1954 mới tiếp quản Thủ đô “chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng, cờ ngày nào tung bay trên phố”. Chính những thị phi xung quanh “Tiến về Hà Nội” khiến nhạc sĩ Văn Cao không còn hứng thú sáng tác ca khúc. Ông quay sang với hội họa và thi ca. Giai đoạn 1954-1975, tâm tư Văn Cao tỏ bày đắm đuối và mãnh liệt qua thơ: “Dưới mái nhà/ Một người đang ngủ/ Với giấc mơ của những vì sao/ Những vì sao đang kể chuyện/ Giấc mơ của mái nhà/ Giấc mơ của một người đang ngủ”.

Quãng thời gian trái tim không ngân nga giai điệu bổng trầm, Văn Cao với phẩm chất một nghệ sĩ lớn, vẫn hướng theo những bước đi nhọc nhằn và kiêu hãnh của dân tộc. Trong bài thơ “Những ngày báo hiệu mùa xuân” viết năm 1956, ông khẳng định “Tôi giờ đây liếm môi nóng bỏng/ Nhìn ra biển bao la/ Lòng hãy còn nhiều khát vọng, còn rất nhiều khát vọng/ Biển thành người khổng lồ kêu khát suốt ngày đêm”.

Một con người thiết tha với vận mệnh giống nòi như nhạc sĩ Văn Cao không thể dửng dưng trước sự kiện ba miền quây quần một nhà. Trong không khí chuẩn bị đón tết Bính Thìn 1976, từ cây đàn piano cũ kỹ trên căn gác 108 Yết Kiêu, Hà Nội của Văn Cao đã vụt ra “Mùa xuân đầu tiên” dạt dào: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Mùa bình thường, mùa vui nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/ Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông/ Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”.

Từ ca khúc “Tiến về Hà Nội” đến ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” là khoảng cách hơn một phần tư thế kỷ. Âm nhạc Văn Cao không biến mất mà tích tụ lại sâu lắng, để vỡ òa miên man “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về/ Người mẹ nhìn đàn con nay đã về/ Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên/ Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh/ Niềm vui phút giây như đang long lanh”.

Mọi lời khen tặng dành cho ca khúc “Mùa xuân đầu tiên”, nếu không cẩn trọng, đều dễ dàng mang màu sắc ngây ngô và khiếm nhã. Bởi lẽ, năng lượng thẩm mỹ của một nhân vật lỗi lạc như Văn Cao luôn dư thừa để có được khúc thức và ca từ vượt trội người khác. Điều quan trọng phải nhìn nhận, “Mùa xuân đầu tiên” là kết quả ấp ủ bao nhiêu mong ngóng của nhạc sĩ Văn Cao với vận mệnh Tổ quốc và hạnh phúc cộng đồng. Nhạc sĩ Văn Cao tạm cất đi rung động âm nhạc hơn hai thập niên để chờ đợi “Mùa xuân đầu tiên” bằng quan niệm “Sự sống thật” như bài thơ ông viết năm 1970: “Tôi không được làm trái đầu mùa/ Những trái cây cao giá/ Tôi, một trái cây muộn, còn sót lại trên cành/ Vị cuối cùng, mùa cuối cùng, rớt xuống/ Mới thật hiểu, sự sống thật của mình”.

Hành trình nửa thế kỷ “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao cũng là hành trình nửa thế kỷ người Việt đi qua những gian khó hậu chiến để từng ngày chăm lo nhịp sống thanh bình. “Mùa xuân đầu tiên” thời chấm dứt đạn bom và chia cách, đang mở lối cho “Mùa xuân đầu tiên” thời vươn lên kiến tạo và chinh phục. Nhạc sĩ Văn Cao gửi gắm “Mùa xuân đầu tiên” cho hôm nay và cho ngày mai. Mùa xuân mơ ước của trùng phùng, của đoàn viên “ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên, ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm” sẽ tiếp tục cùng người Việt bước đến mùa xuân mơ ước của thịnh vượng, của hùng cường./.

                                                             LTN