Văn học, báo chí của chúng ta đã viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ không ít. Tuy vậy, những trải nghiệm, những ký ức của Phạm Quang Nghị trong ‘Nơi ấy là chiến trường’ vẫn có thể là một đóng góp rất quý giá.
PHẠM
QUANG NGHỊ VÀ “NƠI
ẤY LÀ CHIẾN TRƯỜNG”
NGUYỄN
THẾ KHOA
Phạm Quang
Nghị vừa cho ra mắt bộ sách hai cuốn: Hồi ký "Nơi ấy là chiến trường"
(508 trang khổ 16×24cm) và tập thơ "Nơi ấy vùng ven" (45 bài thơ khổ
20x20cm) đều do Nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản. Đây là dấu ấn hơn 4 năm thực
hiện trách nhiệm người lính văn nghệ ở chiến trường Nam Bộ trong những năm đầu
tuổi 20 của anh.
Thật khâm
phục là giữa bom đạn gian khổ anh đã kiên nhẫn ghi chép hàng nghìn trang như thế
và nhất là sau gần 50 năm Phạm Quang Nghị vẫn giữ trọn vẹn những trang ghi chép
này như những gì quý giá nhất của cuộc đời. Tặng sách tôi, anh xúc động nói:
"Mình đã từng cho in cả chục đầu sách. Nhưng đây là hai cuốn sách mình
thích nhất".
Cuối tháng
10 năm 2017, khi được Phạm Quang Nghị tặng cuốn “Xin chữ” do Nhà xuất bản Hà Nội
vừa xuất bản, nhà thơ Thanh Thảo, nhà thơ Ngô Thế Oanh và tôi, những người bạn
của Phạm Quang Nghị ở khóa IV Trường bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn VN, khóa
đào tạo người viết trẻ cho chiến trường miền Nam năm xưa, vui lắm. Đọc những lời
tâm sự đầu sách, đọc cuốn sách, nhất là đọc những bài rất hay anh mới viết sau
khi nghỉ hưu như “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở”, “Những niềm vui giản dị”… trong
cuốn sách “Xin chữ” chúng tôi hiểu Phạm Quang Nghị đã dễ dàng vượt qua cái khoảnh
khắc hụt hẫng rất khó vượt khi từ một chính khách quyền lực về lại một người
dân thường.
Đó là cái
khoảnh khắc mà Phạm Quang Nghị ý thức rõ “cũng là thước đo giá trị, một lần kiểm
nghiệm rất nghiêm khắc đối với mỗi con người” (Những niềm vui giản dị). Có lẽ ý
thức đó cùng một quan niệm của Bixmax mà anh tâm đắc “Chính trị là nghệ thuật của
sự lựa chọn cái có thể” cũng như niềm thanh thản: “Tất cả những gì cần làm và
có thể làm, tôi đã làm không chỉ với tất cả khả năng, nhiệt tình mà còn với tất
cả lương tâm và trách nhiệm” (Phát biểu tại buổi bàn giao nhiệm vụ Bí thư Thành
ủy Hà Nội) đã giúp anh chủ động vượt qua rất nhanh sự hụt hẫng “chết người” để
bắt đầu một chặng đời mới rất ung dung, tự tại. Điều đó cũng chính là chân lý của
muôn đời mà chính anh đã nhắc đến trong bài viết: “Quan nhất thời, vạn đại
chính là dân”.
Đến chơi với
Phạm Quang Nghị, thấy anh khá nhẹ nhõm, thanh thản. Gặp những người bạn thời
chiến tranh, rất tự nhiên, anh hào hứng kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện
thật thú vị ở chiến trường Nam Bộ, chuyện ở R, chuyện vượt Lộ 4, chuyện tinh
nghịch của các cô du kích vùng ven, chuyện các mẹ các chị ở Mỹ Tho, Đồng Tháp,
Tây Ninh yêu thương che chở cho các cán bộ chiến sĩ miền Bắc, chuyện những tin
yêu và nghi ngại của người dân những ngày đầu Sài Gòn giải phóng. Gần nửa thế kỷ
đã qua, nhưng với Phạm Quang Nghị, tất cả như vừa mới diễn ra, rất chi tiết, cảm
động, hấp dẫn. Không ai bảo ai, cả nhà thơ Thanh Thảo, nhà thơ Ngô Thế Oanh và
tôi sau khi nghe anh kể đều nói Phạm Quang Nghị phải dành thời gian để viết lại
những câu chuyện thời chiến đáng nhớ ấy.
Đối với
chúng tôi, Phạm Quang Nghị không chỉ là một vị lãnh đạo, một nhà lý luận chính
trị, văn hóa mà còn là một nhà văn thực thụ. Sau khi tốt nghiệp khoa Sử Đại học
Tổng hợp Hà Nội, anh từng được tham dự Khoá 4 Trường Bồi dưỡng Viết văn trẻ của
Hội Nhà văn VN. Tại đây anh đã được học hỏi trực tiếp từ các nhà văn của đất nước
như Tố Hữu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Nguyên
Hồng, Xuân Diệu, Kim Lân…
Anh cũng từng
là người viết văn, viết báo chuyên nghiệp trong những năm chiến tranh. Sau này,
trong các bộ sách lớn của anh xuất bản khi anh đang đương chức, như “Công cuộc
đổi mới, động lực phát triển lý luận và văn hóa” (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông
tin, 2005), “Thăng Long - Hà Nội - Truyền thống, tầm nhìn, động lực vươn tới”
(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2012), “Thủ đô Hà Nội - tầm vóc mới, vị thế mới”
(Nhà xuất bản Hà Nội, 2016)… bên cạnh các công trình nghiên cứu công phu, các
nghị luận chính trị, văn hóa uyên bác, sắc sảo, bao giờ cũng có một seri hàng
chục bài ghi chép, bút ký, tùy bút, ký sự đầy ắp đời sống, tươi tắn, chân thật,
sinh động, hóm hỉnh, cho thấy khả năng báo chí văn học của Phạm Quang Nghị vẫn
không ngừng được trau dồi, rèn giũa. Văn học, báo chí của chúng ta đã viết về
cuộc kháng chiến chống Mỹ không ít, tuy vậy, những trải nghiệm, những ký ức của
Phạm Quang Nghị vẫn có thể là một đóng góp rất quý giá.
Hôm ấy Phạm
Quang Nghị hứa rằng, bây giờ có thời gian rỗi, chắc chắn là anh sẽ viết, bởi đó
còn là món nợ anh phải trả cho đồng bào, đồng chí chiến trường Nam Bộ thân yêu
ngày nào của anh.
Thật may mắn,
chúng tôi không phải chờ đợi lâu để được đọc những trang viết về những năm
tháng chiến trường của Phạm Quang Nghị. Vào dịp 30/4 năm 2018, Phạm Quang Nghị
vui mừng báo cho chúng tôi biết anh bất ngờ tìm được các tập nhật ký ghi chép
thời chiến trong đống tài liệu ngổn ngang tầng tầng lớp lớp trong nhà. Và từ
các trang nhật ký ghi chép đó, anh cho đánh máy rồi chia làm hai ấn phẩm để
biên tập, công bố: tập thơ “Nỗi nhớ vùng ven” và tập nhật ký, ghi chép “Nơi ấy
là chiến trường”. Hóa ra, những gì Phạm Quang Nghị kể với chúng tôi hôm gặp cuối
năm 2017, anh đều đã ghi chép rất kỹ trong nhật ký. Hơn thế, hai tập sách đã
cho chúng tôi biết anh đã thực thi nghiêm túc, bền bỉ thế nào trách nhiệm của một
người lính cầm bút trong chiến tranh.
Với 8
chương “Vượt Trường Sơn”, “Ở R”, “Về miền Đông” (Bù Đốp - Lộc Ninh), “Nhịp sống
đồng bằng”, “Người vùng ven”, “Tây Ninh ngày ấy”, “Gặp gỡ Sài Gòn”, “Ngày trở về”
hơn 500 trang sách khổ lớn, “Nơi ấy là chiến trường” là những ghi chép chân thật,
trung thực, tràn đầy xúc cảm hành trình hơn 4 năm đi qua cuộc kháng chiến chống
Mỹ của một chiến sĩ cầm bút trẻ về cuộc sống lao động, chiến đấu của cán bộ,
chiến sĩ và nhân dân ta tại chiến trường Nam Bộ.
Đọc những
trang ghi chép của Phạm Quang Nghị, tôi như được sống lại những ngày vượt Trường
Sơn vô cùng gian khổ, ác liệt nhưng cũng vô cùng lãng mạn của lớp trẻ chúng tôi
ngày ấy. Tôi rất thích những trang viết về những cảnh đẹp hiếm có ở Trường Sơn
chúng tôi từng gặp trên đường hành quân cũng như những câu chuyện ở R, trong đó
có sự xuất hiện của các nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Văn Linh, Lưu Hữu Phước,
Trần Bạch Đằng, Bùi Kinh Lăng... mà Phạm Quang Nghị đã ghi lại được. Nhưng đáng
đọc hơn cả là các trang viết chân thật sinh động về cuộc sống chiến đấu của cán
bộ chiến sĩ và nhân dân ta ở Bù Đốp - Lộc Ninh, vùng bắc nam Lộ 4, xã Thanh Điền...
những vùng tranh chấp trong chiến tranh mà ta quen gọi là vùng ven ở Mỹ Tho, Đồng
Tháp, Tây Ninh…
Đọc các
trang viết này, trước hết tôi rất khâm phục tinh thần dũng cảm và ý thức đến tận
những nơi khó khăn nguy hiểm nhất của cuộc chiến đấu để sống và viết của Phạm
Quang Nghị. Từng là một người cầm bút lăn lộn trong chiến tranh ở chiến trường
Khu 5, tôi biết không phải người viết nào cũng dám đi xa, đi sâu, đi lâu vào
các vùng tranh chấp, hàng ngày cùng với chiến sĩ nhân dân trực tiếp cầm súng
giáp mặt kẻ thù như Phạm Quang Nghị. Nhất là Phạm Quang Nghị là người con duy
nhất của một gia đình cán bộ cấp cao. Anh tình nguyện xin đi B không phải để được
“nhúng” chiến trường chút ít làm bệ đỡ tiến thân sau này rồi cáo bệnh trở ra miền
Bắc như không ít trường hợp. Ngọn lửa lý tưởng và khát vọng của một chiến sĩ cầm
bút chân chính là động cơ làm Phạm Quang Nghị chọn về “nằm vùng” như một Việt cộng
thứ thiệt, cùng chia sẻ gian khổ, nguy hiểm, hy sinh với nhân dân, sẵn sàng đổi
máu mình lấy những trang viết chân thật, hào hùng về cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước vĩ đại như Nguyễn Ngọc Tấn, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong, Lê Anh
Xuân… từng làm.
Và kết quả
của sự dấn thân cao đẹp ấy là hàng trăm trang viết rất hay, gây ấn tượng mạnh,
có giá trị hiển nhiên về những con người, những vùng đất mà anh đã sống và dâng
hiến hết mình. Dù chỉ là những trang nhật ký ghi chép nhưng hình ảnh chú bé
giao liên qua Lộ 4, người chèo thuyền vượt rừng tràm Đồng Tháp Mười, anh Năm Rớt,
ông Ba Quắn, những ba, những má, những anh chị thương yêu nuôi giấu cán bộ chiến
sĩ, những chàng trai cô gái du kích vùng ven thông minh, dũng cảm, tinh nghịch,
câu chuyện cười ra nước mắt của một cặp chị em, số phận trớ trêu của một người
hàng binh… đã ám ảnh tôi mãi. Đặc biệt, 8 cái ghi chép dưới một cái tên chung
“Người vùng ven” có thể được coi là chùm bút ký liên hoàn khá sinh động về cuộc
sống, con người nơi đầu sóng ngọn gió trên chiến trường Nam Bộ.
Còn rất
nhiều cái có thể nói về con người, cuộc sống và cái chất Nam Bộ rất thú vị mà
Phạm Quang Nghị đã ghi lại được trong “Nơi ấy là chiến trường”. Những trang viết
như những bức tranh của một họa sĩ tài ba về cảnh vật, âm thanh, những buổi
bình minh, hoàng hôn khó có thể quên của đồng bằng Nam Bộ trong tiếng đạn bay,
tiếng bom pháo rít trong không trung, cùng ánh sáng hỏa châu không ngừng chớp
sáng... Chỉ riêng việc dùng ngôn ngữ đặc trưng Nam Bộ khá nhuần nhuyễn trong tập
sách đã chứng tỏ chỉ trong một thời gian ngắn, anh đã nhập thân, gắn bó rất sâu
vào vùng đất này.
Bên cạnh
chân dung cuộc sống và chiến đấu trên chiến trường Nam Bộ được ghi lại khá
phong phú, hấp dẫn, “Nơi ấy là chiến trường” cũng hé lộ cho chúng ta biết chân
dung tinh thần của một người lính trẻ. Đó là người lính mang vào chiến trường một
nỗi nhớ quê hương, gia đình hết sức da diết, thao thức. Miền quê thanh bình ven
bờ sông Mã, những câu hò trong đêm trăng, những ngày lao động trên sân kho hợp
tác, hình ảnh các cô gái quê nhà… cứ thoắt ẩn thoắt hiện rất đẹp qua màn sương
của kỷ niệm. Đó còn là một chàng trai trẻ có một mối tình thầm kín, nồng cháy,
nhiều dằn dặt với một em Ph. nào đó đã cùng hành quân trên dải Trường Sơn. Và
đó là một chàng trai yêu mẹ hơn tất thảy. Mẹ lúc nào cũng ở bên anh, kể cả
trong giấc ngủ. Những đoạn như thế này “Gió lạnh gợi trong ta ngàn vạn nỗi nhớ
vừa da diết, vừa xót xa. Tràn ngập nỗi nhớ mẹ già. Nhớ những mùa đông đã qua
còn đọng trong ta từng chùm kỷ niệm. Gió ào ào có biết, ta muốn gào lên cho át
tiếng rừng cây.
Mẹ, mẹ ơi
Quê hương
ơi, quê hương.
Và em ơi
anh nhớ
Những kỷ
niệm như vỡ bờ rồi”.
Có rất nhiều
trong “Nơi ấy là chiến trường” những trang viết về mẹ, về quê hương như thế.
Giàu tình
cảm thế, có vẻ mềm yếu thế nhưng anh lại là một chiến sĩ rất cứng rắn, dũng cảm,
dám chấp nhận mọi thách thức hy sinh và ý thức rất rõ những gì sẽ giúp mình đứng
vững, những gì mình cần phấn đấu đạt được trong cuộc đời, cả trước mắt và lâu
dài.
Trong hoàn
cảnh đầy bất trắc, nguy hiểm ở chiến trường, chàng trai trẻ 23 tuổi ấy đã bình
tĩnh viết: “Đấu tranh thắng bản thân là khó hơn tất cả. Biết bao công việc, biết
bao trở ngại gian lao bên ngoài ta đã từng gặp và đã vượt qua. Nhưng nhiều khi
mình không thắng nổi mình trong những tình cảm mềm yếu, những tính toán cá nhân
không tốt. Bởi thế, ta nghĩ câu “thắng trời dễ hơn thắng người, thắng người dễ
hơn thắng mình” là đúng. Có lẽ vì thế, Khổng Tử mới nói Tu - Tề - Trị - Bình.
Tu thân là trên hết, trước hết và quyết định hết thảy. Không tu thân không làm
gì thành công được. Phải như vậy”.
Trong cuộc
sống không ít phức tạp ở R, anh tâm niệm: “Không a dua, không bè phái, không là
lãnh tụ của ai, song cũng không bao giờ chịu làm vật lệ thuộc người khác. Sống
như thế mới thấy được ta là ta, ta làm chủ hoàn cảnh. Ta đề ra cái đúng để làm,
tự động chống lại cái ngây ngô sai trái. Sống vì lẽ phải và lòng chính trực”.
Còn trong
nỗi suy tư khi nhớ một đồng đội đã sớm hy sinh, trong nhật ký của mình, anh ghi
đầy day dứt một danh ngôn: “Đã là một con người thì phải có cái riêng của con
người. Không thể có một con người siêu hình, Không thể phá vỡ đơn vị con người.
Không còn cái riêng của con người thì xã hội sẽ mất hết ý nghĩa, mất hết cơ sở”.
Theo tôi nhớ thì câu này của Tổng Bí thư Lê Duẩn, một lãnh tụ cộng sản luôn
bênh vực sự riêng tư của mỗi cá nhân.
Những triết lý làm người sâu sắc mà người lính trẻ Phạm Quang Nghị đã sớm nhận ra, tâm đắc và nguyện noi theo ngay trong chiến tranh có lẽ đã phần nào lý giải những thành công của vị chính khách Phạm Quang Nghị sau này, một chính khách luôn biết “tu thân”, luôn biết tâm niệm “sống vì lẽ phải và lòng chính trực”…


